Bài viết

Hoạt động chỉ đạo và sự kiện nổi bật của Đảng bộ tỉnh Trà Vinh giai đoạn 1998 - 1999

Vĩnh Long21/11/2025Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu những nỗ lực to lớn của toàn Đảng bộ và Nhân dân trong tỉnh nhằm thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Trung ương, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI. Báo cáo cung cấp một bức tranh toàn cảnh, khách quan về vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ tỉnh trên các lĩnh vực then chốt, phục vụ công tác tham khảo, nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ, công chức.

--------------------------------------------------------------------------------

1. Công tác Xây dựng Đảng và Củng cố Hệ thống chính trị

Giai đoạn 1998-1999, Tỉnh ủy Trà Vinh xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và củng cố toàn diện hệ thống chính trị là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa chiến lược. Việc củng cố nội bộ Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền được xem là nền tảng quyết định sự thành công của mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị trên địa bàn tỉnh.

1.1. Triển khai các Nghị quyết Trung ương và Ban hành Chương trình hành động

Tỉnh ủy đã thể hiện sự nhạy bén và quyết tâm chính trị cao độ trong việc quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là các nghị quyết về công tác xây dựng Đảng.

• Triển khai Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII:

◦ Ngày 06/4/1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động số 18-CTr/TU nhằm thực hiện Nghị quyết về "một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay". Chương trình đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp cốt lõi:

1. Tăng cường sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong Đảng.

2. Tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; tích cực đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng.

3. Chấn chỉnh việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình.

4. Không ngừng củng cố tổ chức, tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng.

5. Cải tiến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết.

◦ Tiếp đó, vào trung tuần tháng 6/1999, Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn tỉnh để quán triệt sâu sắc hơn Nghị quyết, triển khai đợt sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng bộ. Việc ban hành và triển khai quyết liệt Chương trình hành động số 18-CTr/TU cho thấy Tỉnh ủy đã nhận diện rõ những thách thức đương thời, tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách từ gốc rễ, qua đó trực tiếp củng cố kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo thực tiễn và sức chiến đấu của tổ chức Đảng ở cơ sở.

• Quán triệt Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII):

◦ Ngày 19/11/1999, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt để học tập, quán triệt Nghị quyết về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị. Phát biểu kết luận, đồng chí Bùi Quang Huy, Bí thư Tỉnh ủy, đã chỉ đạo các cấp, các ngành phải xây dựng kế hoạch, biện pháp cụ thể để kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy của mình, đặc biệt là xây dựng bộ máy của Đảng phù hợp với điều kiện một Đảng cầm quyền.

Những hành động quyết liệt và kịp thời này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ, tạo sự thống nhất ý chí và hành động từ tỉnh đến cơ sở.

1.2. Nâng cao Dân chủ cơ sở và Tổ chức thành công Bầu cử Hội đồng nhân dân

Công tác xây dựng chính quyền, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân được Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm chỉ đạo và đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

• Ghi nhận từ Lãnh đạo Quốc hội: Vào cuối năm 1998, Đoàn công tác của Quốc hội do Phó Chủ tịch Trương Mỹ Hoa dẫn đầu đã đến kiểm tra tại Trà Vinh. Đoàn đã biểu dương sự cố gắng và sáng tạo của tỉnh trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là mô hình "đưa đảng viên ra tự phê trước Nhân dân" và phương pháp lồng ghép nội dung quy chế dân chủ vào công tác cải cách hành chính, xây dựng ấp, khóm văn hóa.

• Thành công của cuộc Bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp: Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Tỉnh ủy, cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999-2004 ngày 14/11/1999 đã diễn ra thành công tốt đẹp với tỷ lệ cử tri toàn tỉnh đi bầu đạt 99,53%. Kết quả bầu cử đại biểu các cấp cụ thể như sau:

Cấp Hội đồng nhân dân

Tổng số Đại biểu

Cơ cấu Nữ

Cơ cấu Dân tộc

Tỉnh

45

3 (6,66%)

14 (31,11%)

Huyện, Thị xã

241

27 (11,21%)

35 (14,52%)

Xã, Phường, Thị trấn

2.133

303 (14,23%)

259 (12,16%)

Sự thành công của công tác bầu cử là minh chứng sống động cho sự lãnh đạo đúng đắn, sát sao của các cấp ủy Đảng và sự tin tưởng, ủng hộ của Nhân dân đối với hệ thống chính trị.

1.3. Công tác tư tưởng, chính trị và các hoạt động kỷ niệm

Tỉnh ủy đã chủ động sử dụng các sự kiện kỷ niệm trọng đại như một công cụ chính trị - tư tưởng quan trọng, tạo thành một chiến dịch sâu rộng nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, củng cố niềm tin, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và cổ vũ mạnh mẽ các phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng bộ và Nhân dân.

• Kỷ niệm 69 năm thành lập Đảng (05/02/1999): Tỉnh ủy tổ chức họp mặt long trọng. Bí thư Tỉnh ủy Bùi Quang Huy đã ôn lại lịch sử vẻ vang của Đảng, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thế hệ cách mạng đi trước. Dịp này, 63 cán bộ lão thành cách mạng đã được trao tặng huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

• Kỷ niệm 30 năm giải phóng Trà Vinh (29/4/1999): Tại lễ míttinh, Bí thư Tỉnh ủy đã kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, "làm hành trang bước vào thế kỷ XXI". Tỉnh ủy đã trao tặng và truy tặng 68 Huân chương Độc lập cho các cán bộ cách mạng lão thành.

• Kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh và 30 năm thực hiện Di chúc của Bác (09/9/1999): Phát biểu tại buổi lễ, Bí thư Tỉnh ủy kêu gọi toàn Đảng bộ và Nhân dân phát huy tinh thần Cách mạng tháng Tám, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Các hoạt động mang tính biểu tượng như viếng Đền thờ Bác Hồ, nghĩa trang liệt sĩ tỉnh trước mỗi sự kiện lớn đã trở thành một nét đẹp văn hóa chính trị, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn".

Với việc củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng và tổ chức Đảng, Tỉnh ủy đã có đủ thế và lực để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trên mặt trận kinh tế - xã hội, với mục tiêu cao nhất là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

--------------------------------------------------------------------------------

2. Lãnh đạo phát triển Kinh tế - Xã hội và Chăm lo đời sống Nhân dân

Trong bối cảnh tỉnh Trà Vinh còn nhiều khó khăn, Tỉnh ủy đã xác định phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là mặt trận hàng đầu, đồng thời dành sự quan tâm đặc biệt đến các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách an sinh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy thể hiện rõ nét qua các định hướng chiến lược và các giải pháp cụ thể, sát với thực tiễn địa phương.

2.1. Định hướng phát triển Nông nghiệp, Nông thôn và Thủy sản

Tỉnh ủy đã triển khai một chiến lược kinh tế nông thôn đa chiều, thể hiện tư duy lãnh đạo toàn diện: vừa thúc đẩy đa dạng hóa để tạo đột phá, vừa củng cố hạ tầng nền tảng, vừa hỗ trợ các ngành kinh tế truyền thống.

• Thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn:

◦ Trong chuyến làm việc tại huyện Cầu Kè (18/5/1999), Bí thư Tỉnh ủy Bùi Quang Huy đã chỉ đạo địa phương cần tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là phát triển vườn cây ăn trái và nuôi thủy sản nước ngọt, quan tâm xóa đói giảm nghèo cho các xã có đông đồng bào Khmer.

◦ Cụ thể hóa đường lối này, ngày 27/8/1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 19-CTr/TU về phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chương trình đặt ra các mục tiêu tham vọng, trong đó có việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2010 đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đạt 35-36%.

• Đầu tư cho hạ tầng thủy lợi chiến lược:

◦ Trong buổi làm việc tại Trà Vinh (22/5/1999), Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Võ Văn Kiệt đã nhấn mạnh: "Vấn đề ngăn mặn, giữ ngọt là yêu cầu cấp bách đối với tỉnh Trà Vinh". Chỉ đạo này đã định hướng cho tỉnh tập trung nguồn lực xây dựng các công trình thủy lợi trọng điểm, đảm bảo an ninh nguồn nước và phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững.

• Hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho ngành thủy sản:

◦ Sau thiệt hại do cơn bão số 5 năm 1997, Tỉnh ủy đã có những hành động thiết thực. Ngày 18/3/1999, Bí thư Tỉnh ủy Bùi Quang Huy đã trực tiếp đến thị trấn Mỹ Long (Cầu Ngang) để kiểm tra, lắng nghe nguyện vọng và cam kết sẽ nghiên cứu, từng bước tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho bà con ngư dân an tâm sản xuất, bám biển.

2.2. Chăm sóc Sức khỏe, Dân số và Thực hiện Chính sách xã hội

Công tác chăm lo đời sống tinh thần, sức khỏe và thực hiện các chính sách "Đền ơn đáp nghĩa" luôn được Tỉnh ủy quan tâm sâu sắc.

• Y tế và Dân số: Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) ngày 11/8/1999 đã ghi nhận những kết quả tích cực:

◦ 80/94 cơ sở y tế được xây dựng cơ bản.

◦ Bệnh viện đa khoa tuyến huyện được trang bị máy siêu âm, X-quang; Bệnh viện Đa khoa tỉnh được trang bị các thiết bị hiện đại như máy nội soi, siêu âm màu, góp phần giải quyết nhiều ca bệnh phức tạp.

◦ Tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm 2,7%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm 0,07‰.

• Chính sách "Đền ơn đáp nghĩa":

◦ Ngày 05/8/1999, Ban Chỉ đạo tỉnh đã phát động xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa với ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhằm đảm bảo người có công có mức sống ít nhất bằng mức trung bình của người dân địa phương. Ngay trong ngày đầu phát động, Quỹ đã vận động được 200 triệu đồng.

◦ Các hoạt động chăm lo gia đình chính sách được tổ chức thường xuyên. Tiêu biểu là việc tổ chức cho 28 Mẹ Việt Nam anh hùng ra thăm Thủ đô Hà Nội lần thứ 3 (07/4/1999) và chuyến thăm, tặng quà 30 gia đình chính sách tại căn cứ cách mạng Cây Gòn (28/4/1999).

2.3. Tăng cường khối Đại đoàn kết dân tộc

Tỉnh ủy luôn xác định việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là mối đoàn kết Kinh - Khmer, là nhân tố quan trọng đảm bảo ổn định chính trị và phát triển bền vững.

• Nhân dịp Tết Chôl-Chnam-Thmây (12/4/1999), Tỉnh ủy đã tổ chức buổi họp mặt thân mật với 200 đại biểu là các vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức và cán bộ, đồng bào Khmer tiêu biểu.

• Phát biểu tại buổi họp mặt, Bí thư Tỉnh ủy Bùi Quang Huy đã đánh giá cao sự nỗ lực vươn lên của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Khmer trong thực hiện các chủ trương của Tỉnh ủy về giải quyết đất đai, xóa đói giảm nghèo, đồng thời khẳng định đây là điều kiện tốt để đồng bào tiếp tục phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.

• Dịp này, Tỉnh ủy đã tổ chức nhiều đoàn cán bộ đến thăm và chúc Tết tại các chùa, thăm các gia đình chính sách, Mẹ Việt Nam anh hùng người Khmer, thể hiện sự quan tâm sâu sắc và tinh thần đoàn kết bền chặt.

Song song với việc lãnh đạo phát triển nội tại, Tỉnh ủy cũng rất chú trọng công tác đối ngoại, làm việc chặt chẽ với các cơ quan Trung ương để tranh thủ sự ủng hộ, chỉ đạo và đảm bảo môi trường an ninh, chính trị ổn định cho sự phát triển của tỉnh.

--------------------------------------------------------------------------------

3. Hoạt động Đối ngoại, An ninh - Quốc phòng và Công tác Báo chí

Tỉnh ủy xác định việc duy trì mối quan hệ công tác chặt chẽ với các cơ quan Trung ương và phát huy vai trò của truyền thông là hai nhiệm vụ then chốt. Tỉnh ủy đã chủ động biến các buổi làm việc với lãnh đạo cấp cao thành những phiên làm việc chiến lược nhằm tranh thủ sự chỉ đạo, đồng bộ hóa chủ trương của tỉnh với chính sách quốc gia, và vận động nguồn lực cho các dự án trọng điểm. Song song đó, công tác báo chí được chỉ đạo sát sao để trở thành công cụ tuyên truyền hiệu quả, phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

3.1. Làm việc với các Đoàn Lãnh đạo cấp cao của Trung ương

Tỉnh ủy đã tổ chức đón tiếp và làm việc hiệu quả với nhiều đoàn công tác cấp cao, qua đó báo cáo tình hình, xin ý kiến chỉ đạo và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho địa phương.

• Đoàn Quốc hội (Tháng 12/1998):

◦ Trưởng đoàn: Đồng chí Trương Mỹ Hoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội.

◦ Nội dung làm việc chính: Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

◦ Kết luận/Chỉ đạo quan trọng: Biểu dương sự sáng tạo của Trà Vinh, đặc biệt là mô hình "đưa đảng viên ra tự phê trước Nhân dân" và yêu cầu nhân rộng các kinh nghiệm tốt.

• Đoàn Bộ Quốc phòng (22/01/1999):

◦ Trưởng đoàn: Thượng tướng Phạm Văn Trà, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

◦ Nội dung làm việc chính: Trao đổi về tình hình thời sự trong nước, quốc tế và công tác an ninh - quốc phòng tại địa phương.

◦ Kết luận/Chỉ đạo quan trọng: Nhắc nhở việc giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ.

• Đoàn Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương (22/5/1999):

◦ Trưởng đoàn: Đồng chí Võ Văn Kiệt, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

◦ Nội dung làm việc chính: Nghe báo cáo và cho ý kiến về đầu tư các công trình trọng điểm.

◦ Kết luận/Chỉ đạo quan trọng: Nhấn mạnh tính cấp bách của các công trình thủy lợi ngăn mặn, giữ ngọt và yêu cầu các bộ, ngành Trung ương xem xét, hỗ trợ Trà Vinh.

• Đoàn Quốc hội (21/10/1999):

◦ Trưởng đoàn: Đồng chí Nguyễn Phúc Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội.

◦ Nội dung làm việc chính: Kiểm tra công tác chuẩn bị bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp.

◦ Kết luận/Chỉ đạo quan trọng: Đánh giá cao công tác chuẩn bị của tỉnh và tin tưởng cuộc bầu cử sẽ thành công tốt đẹp.

3.2. Chỉ đạo công tác Báo chí - Tuyên truyền

Tỉnh ủy luôn nhận thức sâu sắc vai trò của báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và là diễn đàn của Nhân dân.

• Tại buổi họp mặt báo chí đầu Xuân Kỷ Mão (22/02/1999), đồng chí Bùi Quang Huy, Bí thư Tỉnh ủy, đã khẳng định vai trò cổ vũ phong trào cách mạng của báo chí đã phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

• Sự quan tâm của Tỉnh ủy đối với công tác báo chí được thể hiện rõ nét qua việc đưa nội dung quy hoạch báo chí vào chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 và việc nhiều đồng chí lãnh đạo tỉnh trực tiếp tham gia viết bài, trả lời phỏng vấn, tạo điều kiện thuận lợi cho phóng viên tác nghiệp.

Những hoạt động chỉ đạo quyết liệt và toàn diện trong giai đoạn 1998-1999 đã để lại những dấu ấn sâu sắc, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của tỉnh Trà Vinh trong những năm đầu của thế kỷ mới.

--------------------------------------------------------------------------------

4. Kết luận

Giai đoạn 1998-1999 là một chặng đường bản lề, ghi dấu sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát và hiệu quả của Đảng bộ tỉnh Trà Vinh trên tất cả các lĩnh vực. Tỉnh ủy đã thể hiện rõ vai trò hạt nhân lãnh đạo, quy tụ sức mạnh toàn dân thông qua việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược: từ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, đến việc định hướng phát triển kinh tế lấy nông nghiệp làm trọng tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Những thành tựu nổi bật trong giai đoạn này cho thấy một tầm nhìn chiến lược. Việc tập trung củng cố kỷ luật Đảng thông qua Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và củng cố chính quyền cơ sở qua cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân thành công đã tạo ra nền tảng chính trị vững chắc. Chính trên nền tảng đó, các chương trình hành động về kinh tế - xã hội mới có đủ điều kiện để triển khai hiệu quả. Những quyết sách này không chỉ giải quyết các vấn đề cấp bách trước mắt mà còn tạo ra một thế và lực mới, tạo đà cho sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Trà Vinh, tự tin bước vào thế kỷ XXI.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn