Bài viết

Học Bác từ công việc làm báo, viết báo và đọc báo

Học Bác từ công việc làm báo, viết báo và đọc báo

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam (ngày 16/4/1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể lại khởi đầu “duyên nợ” của mình với báo chí: “Lúc ở Pari, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu lên được. Một đồng chí công nhân ở toà báo Đời sống thợ thuyền(1) cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi và bảo Bác có tin tức gì thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn”(2). Chính việc làm báo và viết báo đã định hướng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh sự hiểu biết từng bước, dần dần sâu sắc hơn về quan điểm và lập trường chính trị. Từ mục đích chiến đấu là “đập thực dân Pháp”, từ phương pháp “một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân”, Người đã đi đến lựa chọn nội dung viết là những gì mình biết rất rõ (ví như đời sống của công nhân Pari), những điều mắt thấy tai nghe, những gì là sự thật, những chuyện mà người đọc thích hoặc người đọc không biết (ví như những chuyện ở Việt Nam và ở các thuộc địa của Pháp).

Như vậy là, ngay từ buổi ban đầu cầm bút viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chỉ xác định rõ được đối tượng và mục đích tuyên truyền mà còn nắm vững được chìa khóa tạo ra sức hấp dẫn, sức mạnh của tác phẩm. Từ kinh nghiệm hoạt động báo chí của Người, từ quan điểm của Người về hiệu quả, công dụng của báo chí truyền thông, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý trước tiên đề tài cho người cầm bút là “những điều mắt thấy tai nghe”, “những người tốt, việc tốt”, “những người, những việc vô cùng anh dũng, oanh liệt” trong chiến đấu và sản xuất, trong phong trào thi đua yêu nước. Người đòi hỏi người cầm bút phải xác định rõ chủ đề, đối tượng và mục đích cần diễn đạt, đó là: Nói, viết cái gì? Nói, viết cho ai? Nói, viết để làm gì? Nói, viết như thế nào? Giảng dạy về cách viết tại lớp chỉnh Đảng Trung ương ngày 17/8/1953, Người yêu cầu phải đặt ra 4 câu hỏi:

“- Vì ai mà mình viết?

– Mục đích viết làm gì?

Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?

– Viết cho đại đa số: công – nông – binh.

Viết để làm gì?

– Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”(3).

Lời dạy của Bác đòi hỏi rất cao và cũng rất nghiêm khắc tất cả những bài viết dù ngắn dù dài đều phải mang một nội dung tư tưởng sâu sắc và một hình thức thể hiện trong sáng, giản dị và súc tích.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và bảo vệ, phát triển tiếng nói của dân tộc. Người căn dặn các nhà báo phải có trách nhiệm đừng để cho tiếng mẹ đẻ của chúng ta mỗi ngày một mai một đi. Nhà văn Nguyễn Công Hoan có lần kể lại: “Nghe Bác nói về câu và chữ, tôi càng phải suy nghĩ. Bác ở nước ngoài mấy chục năm, đã từng viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, thế mà sao Bác không quên tiếng mẹ đẻ, còn thạo hơn cả những người chỉ ở trong nước và sinh nhai bằng chữ nghĩa của nhà… Ngoài đường lối chính trị, Bác luôn luôn khuyên chúng tôi phải viết cho dễ hiểu. Bác bảo viết để người kém hiểu được hãy nên viết. Phải viết ngắn, gọn. Trong một tờ báo, bài ngắn bao giờ cũng được đọc trước tiên…”(4). Thật vậy, dù am hiểu và sử dụng thành thạo nhiều ngoại ngữ trên thế giới, dù đã làm báo bằng tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh… nhưng khi bắt đầu xây dựng và phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sử dụng các câu ngắn với những lời lẽ, ý tứ dễ hiểu, dễ nhớ, với những từ ngữ phổ thông, thuần Việt, thậm chí rất bình dân,… đủ để những người dân có trình độ thấp cũng hiểu được ý của người viết cũng như nội dung bài báo.

Nói về đời sống mới, Người ngắn gọn chỉ ra: Cần – Kiệm – Liêm – Chính (Báo Cứu quốc các số ngày 30-5, 31-5, 01-6 và 02/6/1949). Nói về tiêu chuẩn của người cán bộ, đảng viên, Người nhấn mạnh: Đạo đức cách mạng (Báo Nhân dân, số 460, ngày 06/6/1955). Nói về tăng gia sản xuất, Người quán triệt phương châm: Nhiều, Nhanh, Tốt, Rẻ (Báo Nhân dân các số 2176, 2178, 2182, 2184 năm 1960). Khi mà cả dân tộc đang kháng chiến chống Pháp trường kỳ và gian khổ, Người khẳng định chúng ta nhất định sẽ có ngày “khổ tận cam lai” (bài “Khổ tận cam lai”, Báo Cứu quốc, số 1853, ngày 03/7/1951). Đặc biệt, câu ca dao quen thuộc “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng” đã được vị Chủ tịch nước sử dụng trong rất nhiều bài báo của mình để kêu gọi quốc dân nêu cao truyền thống đạo lý nhân ái, tương thân, tương ái của dân tộc: bài “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với tổ quốc” (Báo Nhân dân, số 32, ngày 15/11/1951), bài “Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt” (Báo Nhân dân, số 47 – 48, ngày 03/3/1952), bài “Nhiễu điều phủ lấy giá gương (Báo Nhân dân, số 520, ngày 05/8/1955), bài “Kiều bào ta ở Thái Lan luôn luôn hướng về tổ quốc” (Báo Nhân dân, số 2123, ngày 08/01/1960)… Cùng với việc viết báo thì đọc báo là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người xem rất nhiều các thể loại báo, từ báo Trung ương đến báo địa phương, báo trong nước đến báo nước ngoài, từ báo đảng đến báo các ngành, các giới. Trước hết, Người xem báo để nắm tình hình trong nước và thế giới, sau đó có sự chỉ đạo, động viên, khen thưởng, phê bình kịp thời.

Bên cạnh đó, qua báo chí Người thu nhập tài liệu viết sách, báo hoặc đi nói chuyện. Người ghi tóm tắt thông tin vào cuốn sổ nhỏ hoặc cho cắt dán để làm tư liệu. Gặp những chữ báo in sai, Bác đánh dấu và nói để báo sửa, ví dụ như tên của vương phi Y- Lan phải viết đúng là Ỷ- Lan; anh Lý Tử Trọng phải viết là anh Lý Tự Trọng. Có lần bài viết đăng trong Tạp chí Hậu cần để lộ bí mật, Bác ghi chữ “Mật”và nhắc Văn phòng gửi cho tạp chí để rút kinh nghiệm, hay như bài “Rừng cây xanh trên trận địa” (Báo Quân đội nhân dân ngày 18/02/1969) viết sơ suất để lộ địa điểm đóng quân của một đơn vị bộ đội, Bác ghi dòng chữ tiếng Trung là “Lộ bí mật quân sự” để báo chú ý cách đưa tin. Bài nào cần nghiên cứu, Bác nhắc các đồng chí giúp việc cắt dán lưu lại theo chuyên đề về Đảng, về các ngành, về miền Nam và  tin thế giới… Bác đặc biệt quan tâm đến các tin tức về cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam, các tin chiến thắng, mỗi bản tin Thông tấn xã Việt Nam đưa tin hoạt động của B52 đều được Bác đánh dấu và giữ lại.

Khi đọc tin một vài nước anh em gặp khó khăn, bị thiên tai, lũ lụt, động đất gây thiệt hại chết người, Bác nói ngay Văn phòng gửi điện thăm hỏi, chia buồn. Có lần Bác thấy báo đưa tin mấy nước trong khối xã hội chủ nghĩa cùng đến thăm nước ta một ngày, nhưng đoàn này thì được in chữ to đưa lên trên, đoàn khác in chữ nhỏ để ở dưới, Bác góp ý chỉnh lại cho bằng nhau, nếu để như thế là bên trọng, bên khinh. Khi nghe đọc bài báo có nhan đề “Kỷ niệm ngày sinh nhật Phan Bội Châu”, Người đã phê bình tác giả viết xách mé, vì phải gọi là Cụ Phan Bội Châu mới đúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến báo Nhân dân vì đây là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng ta. Người thường căn dặn, bài viết cho báo Nhân dân phải ngắn gọn để đăng được nhiều bài, người đọc đỡ tốn thời gian; khi nào báo đăng văn kiện của Đảng và Nhà nước thì ra thêm phụ trương khổ nhỏ cho cán bộ, đảng viên dễ lưu giữ và tiện tra cứu.

Tờ báo hàng ngày của Đảng bộ Hà Nội từ khi còn mang tên “Thủ đô”, “Thủ đô Hà Nội” đến “Hà Nội mới” cũng luôn được Bác dành cho sự quan tâm đặc biệt. Bác đọc báo hàng ngày rất đều đặn, rất kỹ và có giờ giấc nhất định. Bác không chỉ quan tâm đến nội dung trong bài, mà còn chú ý xem xét đến việc tổ chức mặt báo, bố trí các trang mục. Bác cũng luôn nhắc nhở tòa soạn phải cố gắng xuất bản báo đúng giờ.

Bên cạnh đó, Bác còn thường xuyên xem báo địa phương, báo các ngành và không quên khen thưởng những thành tích và nhắc nhở những khuyết điểm, sai sót mà các báo đã thông tin, phản ánh. Bài báo “Cần sửa chữa những thiếu sót trong “3 khoán” ở các hợp tác xã nông nghiệp” của tác giả Hồng Lân (đăng trên báo Hà Nội Mới, số ra ngày 21/3/1969) trên bàn làm việc của Bác tại Nhà sàn vẫn còn bút tích Bác ghi bằng bút bi đỏ: “K/g đ/c Trường Chinh. Những sai lầm về “3 khoán”? xem xong trả lại cho B”. Bác còn chú ý theo dõi mục: Ý kiến bạn đọc. Có lần xem báo Lao Động có bài thơ vui ở mục “ Nói thật không mất lòng”, phê bình một công trường để nhà tắm nữ trống trải, chị em làm việc xong không có nơi để tắm, Bác đã gửi bài báo và ý kiến xuống công trường để các đồng chí lãnh đạo sửa chữa.

Là người khởi xướng nhiều phong trào thi đua yêu nước ở các cấp, các ngành nên Bác đặc biệt quan tâm tới mục Người tốt việc tốt ở các báo và đã đánh dấu bằng bút đỏ ở nhiều bài báo như bài “Trai anh hùng đội ba” (báo Quân đội nhân dân ngày 16/8/1969); bài “Thực hiện lời dạy của Bác Hồ thanh niên Quảng Ninh quyết đưa phong trào “Hai mũi tiến công thắng Mỹ” tiến lên mạnh mẽ” (báo Nhân dân ngày 15/8/1969); bài “Những bông hoa chiến công màu da cam” (báo Quân đội nhân dân ngày 14/8/1969); bài “Nuôi quân giỏi quản lý tốt” (báo Quân đội nhân dân ngày 15/8/1969); tin “Bộ đội công binh đoàn X, Y bộ binh khẩn trương tham gia phòng chống lụt với ý chí quyết thắng” (báo Quân đội nhân dân ngày 19/8/1969)… được gạch dưới tiêu đề hoặc ghi dấu “θ” ở bên cạnh để thưởng huy hiệu.

Thống kê trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1968, có hơn 2075 bài báo về gương người tốt việc tốt, được Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các cán bộ văn phòng Phủ Chủ tịch cắt ra từ 70 loại báo khác nhau(5). Các bài báo này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc, để lại bút tích là ký hiệu thưởng huy hiệu.  Đó là những tin, bài viết về gương người tốt, việc tốt được đăng trên các báo Trung ương, báo địa phương và các báo ngành, đoàn thể như: Nhân dân, Lao động, Quân đội nhân dân, Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam, Thời mới, Cứu quốc, Tân Việt hoa, Bản tin miền Bắc Thông tấn xã Việt Nam, Thủ đô Hà nội, Chính nghĩa, Vùng mỏ… Phần lớn các bài đều đăng trong các chuyên mục về người tốt, việc tốt với tên gọi khác nhau như: “Người mới, việc mới”, sau là “Người tốt, việc tốt” của báo Nhân dân, “Chuyện gần chuyện xa” của báo Thời mới, “Mẩu chuyện nhỏ” của báo Quân đội nhân dân, “Chuyện hay” của báo Vùng mỏ, “Người tốt, việc hay” của báo Phú Thọ… 

Những ngày cuối cùng của đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn làm việc, đọc báo và nghe đọc báo. Trên bàn làm việc của Người ở Nhà sàn cũng như ngôi nhà Người chữa bệnh và qua đời vẫn còn nguyên chồng báo Người đang xem. Đó là 29 tờ báo các loại được xuất bản vào thời điểm tháng 8 và tháng 9 năm 1969, và tin tức mà Người quan tâm hơn cả chính là tin chiến sự miền Nam và tin lụt lội ở miền Bắc. Cùng với hàng nghìn bài báo trước đó, đây chính là nguồn sử liệu sống có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về cuộc đời phấn đấu không mệt mỏi cho hạnh phúc của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, như lời nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi Người trong bài thơ “Theo chân Bác”: “Bác vui như ánh buổi bình minh Vui mỗi mầm non, trái chín cành Vui tiếng ca chung hòa bốn biển Nâng niu tất cả, chỉ quên mình”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn