HỌC GIẢ LÊ THỌ XUÂN (1904 - 1978)
Ông tên thật là Lê Văn Phúc (Tư Phúc), tự là Liêm, sinh ngày 6/8/1904 (Giáp Thìn) tại Hương Điểm, thuộc ấp Tân Thị (nay là Ấp 1), làng Tân Hào, quận Ba Tri (nay là huyện Giồng Trôm), tỉnh Bến Tre, trong một gia đình giàu có nổi tiếng khắp vùng. Cách đây khoảng 250 - 300 năm, tổ năm đời của ông là bà Lực (có công hiến đất lập chợ Hương Điểm) quê ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa vào khai khẩn ruộng đất ở những vùng đất nay thuộc các xã Tân Hào, Tân Lợi Thạnh, Tân Thanh, Thạnh Phú Đông, Hưng Nhượng, Hưng Lễ, Tân Hưng,... Cha ông là Lê Văn Nghị có công xây cầu Ba Lạc giúp dân đi lại đỡ vất vả, cực nhọc. Hiện nay, mộ tổ của ông nằm tại Giồng Tre Quạ (Ấp 11), xã Tân Hào, do cháu tám đời là thầy giáo Lê Văn Chưởng (Tư Chưởng) trông nom.
Lúc nhỏ, Lê Văn Phúc học Trường Tiểu học Hương Điểm, sau lên học ở Sài Gòn. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Sài Gòn, ông quay về dạy học tại Trường Tiểu học Hương Điểm nên thường được gọi là thầy giáo Liêm. Ông là nhà giáo tận tụy, có lối sống bình dị, hiếu thảo, đức độ. Ông vừa dạy học vừa tham gia viết báo, lấy bút danh là Lê Thọ Xuân, Thọ Xuân Lê Văn Phúc, Liên Tiếu, Lý Bổn Nguyên. Ông là thành viên Ủy ban Văn học Phan Thanh Giản thuộc Hội Nam kỳ Đức Trí Thể Dục. Ông nổi tiếng trong phong trào báo chí công khai ở Sài Gòn, chống chính sách xâm lược của thực dân Pháp, vạch trần âm mưu thành lập xứ Nam kỳ tự trị của chúng nhằm tách Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam. Ông viết bài cho nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn và ở miền Bắc trong những thập niên 30 - 40 của thế kỷ XX như Báo Mai, Đại Việt tạp chí, Đồng Nai, Văn Lang, Nam kỳ tuần báo, Tri tân (Hà Nội), Sông Hương, Việt bút,... Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Lê Thọ Xuân tham gia hoạt động cách mạng, đầu tiên là phụ trách Ban Thông tin Tuyên truyền tỉnh và chủ nhiệm tờ báo Hy sinh ở Bến Tre). Đầu năm 1946, ông được bí mật đưa lên Sài Gòn trị bệnh sốt rét rừng và sống luôn ở đây vì giặc đã chiếm nhà ông làm đồn trú đóng. Trong những năm 1946 - 1948, ông làm Chủ tịch phong trào báo chí thống nhất Nam Bộ, chống lại chủ trương Nam kỳ tự trị của Pháp và bọn Việt gian tay sai.
Lê Thọ Xuân là người rất có nghị lực trong học tập, nghiên cứu và hoạt động văn hóa, khoa học và giáo dục. Ông từng tâm sự về quá trình tự học của mình: “Tôi chỉ là kẻ học chữ Hán bằng cách tự học. Tôi chưa từng đọc hết một đoạn cổ văn nào, tôi không hề thuộc nổi một bài Đường thi nào; tôi chỉ học chữ Hán để riêng đọc sách địa dư và sử ký, nhứt là sử địa nước nhà. Tôi học từ chữ một, tôi học từng câu một. Có khi vì một chữ nghĩa không rõ, hay khi vì một chấm câu không thông, tôi mất nhiều thì giờ hỏi học những vị sẵn lòng dạy tôi. Ở Nam, ông Mười Trí (một đông y sĩ trẻ tuổi, quê mùa, không mấy ai nghe tên biết tiếng, tại Cái Mít, Bến Tre) và ông Năm Bảo (tức ông Nguyễn Đại Liêng, một ông lão ở ấn tại rạch Bà Đồ, Cần Thơ); ở Bắc, ông Nguyễn Văn Tố và ông Ngô Văn Triện, hai người mà tôi chưa từng gặp mặt; ở Trung, cụ Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng và cụ Biểu Xuyên Đào Phan Duân (Bình Định). Nhờ tự học, từ một giáo viên Trường Tiểu học Hương Điểm (Bến Tre), ông trở thành giáo viên Trường Trung học Tiên Long (Sài Gòn), rồi giảng viên thỉnh giảng môn Lịch sử ở các viện đại học như Viện Đại học Văn khoa Sài Gòn, Viện Đại học Đà Lạt và Viện Đại học An Giang. Tháng 5/1949, Lê Thọ Xuân đứng ra làm Giám đốc kiêm chủ bút tờ Việt báo, quy tụ nhiều nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, họa sĩ ở trong Nam, ngoài Bắc, trong nước và ngoài nước tham gia như Bùi Đức Tịnh, Trần Văn Khê, Thúy Lãnh (Khuông Việt), Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài,... Chủ trương của tờ báo là "để dân chúng hiểu biết những cái hay cái dở trong nước, nền văn hóa nước nhà, nền kinh tế nước nhà, và hết thảy những cái gì liên quan đến quốc gia (2)". Bản thân ông từng viết nhiều bài tố cáo âm mưu và tội ác của Pháp và Mỹ, đồng thời lên tiếng kêu gọi sự đoàn kết, liên hiệp của các dân tộc thuộc địa bị đô hộ, áp bức cùng đứng lên đấu tranh chống ngoại xâm. Sau những loạt bài viết mạnh mẽ ấy, Việt báo bị đóng cửa. Lê Thọ Xuân cùng với ê kíp của mình mượn tờ Sông Hương do Nguyễn Khắc Oanh làm chủ nhiệm để tiếp tục hoạt động. Nhưng không lâu sau, tờ này cũng bị đóng cửa. Cuối năm 1949, Lê Thọ Xuân làm chủ bút ẩn danh của tờ Thần Chung do Nam Đình làm tổng lý.
Ông chuyên nghiên cứu về văn hóa, văn học, địa lý, sử học Việt Nam và đã xuất bản nhiều tác phẩm như: Phan Thanh Giản et sa famille (đồng tác giả với Pierre Daudin, 1941); Quốc hiệu Việt Nam (1947); Việt ngữ tham nguyệt thông (cùng với Lê Văn Hùng và Thôi Tiêu Nhiên, 1948); Tiểu sử Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu (1959). Ngoài ra, ông còn viết các bài khảo cứu đính chính nhiều sai lầm, góp phần đánh giá đúng đắn hơn về tác giả, tác phẩm của nhiều văn nhân Nam Bộ thời nhà Nguyễn như Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Trịnh Hoài Đức.....
Ông được đánh giá là người chu đáo, thận trọng, trầm tư, khiêm tốn khi làm việc nhưng cũng rất thẳng thắn chỉ ra những sai lầm trong học thuật và không ngại đụng chạm đến những người nổi tiếng đương thời như Ngô Tất Tố, Dương Quảng Hàm, Dương Bá Trạc, Phan Khôi, Vũ Ngọc Phan,... Chính ông là người đầu tiên khám phá gia phả họ Phan của Phan Thanh Giản. Tuy nhiên, các di vật và bản gia phả này đã bị cháy trong những ngày Pháp tái chiếm Bến Tre (năm 1946).
Năm 1958, với những đóng góp trên lĩnh vực báo chí, Bộ Giáo dục tặng ông bức ảnh Bác Hồ, có chữ ký của Người và chữ viết “Tặng chiến sĩ Giệt Zốt".
Những năm 1960, với uy tín học thuật của mình, Lê Thọ Xuân được Hiệp hội Đông Dương Nghiên cứu (Société des Études Indochinoises) ở Sài Gòn cử vào Ban Quản trị và thường gửi sách, luận văn nhờ ông góp ý, phê bình. Ông được đánh giá là một trong những nhà báo đầu đàn ở Sài Gòn trước năm 1975, được giới tríthức Nam Bộ kính trọng. Những năm cuối đời, bài nghiên cứu của ông thường xuất hiện đều đặn trên tập san Sử Địa, Đồng Nai văn tập, Lửa thiêng (Sài Gòn).
Sau ngày đất nước thống nhất, ông là cộng tác viên của Viện Khoa học xã hội tại miền Nam (nay là Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ), lúc bấy giờ do người bạn tâm giao, đồng hương của ông là Ca Văn Thỉnh làm Viện trưởng.
Trong một lần về thăm quê Bến Tre, thấy Trường Tiểu học Hương Điểm, nơi ngày xưa mình từng học và dạy học đã bị giặc phá hủy, Lê Thọ Xuân quyết định vận động dòng họ cùng hiến đất xây Trường Phổ thông cơ sở (gồm 3 cấp học: Mẫu giáo, cấp I và cấp II thời bấy giờ) và Trạm Y tế xã Tân Hào. Trường Phổ thông cơ sở Tân Hào do ông xây dựng tặng cho quê hương, được khánh thành và đưa vào sử dụng từ năm học 1977 - 1978. Trong thập niên 90 của thế kỷ XX, Trường THCS Tân Hào đổi thành Trường Tiểu học Tân Hào, Ngày 20/3/1978, ông lâm bệnh nặng và qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 75 tuổi.
TS. Lưu Hồng Sơn, từng công tác tại Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, người có nhiều năm nghiên cứu về ông, đánh giá:
“Xét riêng về Lê Thọ Xuân, có thể nói ông là người tiên phong trong nghiên cứu lịch sử Nam Bộ theo phương pháp thực chứng, kết hợp một cách chặt chẽ giữa tài liệu lưu truyền và thông tin sống từ các cuộc điền dã thực tế. Ông cũng có vai trò quan trọng trong nghiên cứu văn học cổ Nam Bộ,... Lê Thọ Xuân còn là người tiên phong và có công lao to lớn trong việc mở rộng giao lưu học thuật giữa ba miền Nam - Bắc - Trung... Di sản Lê Thọ Xuân để lại không có những công trình đồ sộ dài hơi, nhưng những bài viết của ông đều có giá trị và đóng góp thiết thực đối với lịch sử và văn hóa Nam Bộ. Dù Lê Thọ Xuân viết về vấn đề gì, người đọc cũng thấy ở ông một sự tận tụy hết mình trong công việc. Điều đó khẳng định ông là một cây bút đầy bản lĩnh, và có một tấm lòng thiết tha với quê hương đất nước."
Để vinh danh sự đóng góp của ông, năm 2000, tên Lê Thọ Xuân được đặt cho một con đường ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 21/8/2001, Trường Tiểu học Tân Hào được đổi thành Trường Tiểu học Lê Thọ Xuân.


