HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN TỐ ĐẢM NHẬN TRỌNG TRÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN MỚI
Cách mạng Tháng Tám thành công, nể trọng tài năng và cảm phục tấm lòng yêu nước của Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội với công việc cấp bách là chống giặc đói và giặc dốt - cùng với chống giặc ngoại xâm là ba nhiệm vụ trung tâm và hàng đầu của chính quyền cách mạng bấy giờ.
HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN TỐ ĐẢM NHẬN TRỌNG TRÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN MỚI
Cách mạng Tháng Tám thành công, nể trọng tài năng và cảm phục tấm lòng yêu nước của Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội với công việc cấp bách là chống giặc đói và giặc dốt - cùng với chống giặc ngoại xâm là ba nhiệm vụ trung tâm và hàng đầu của chính quyền cách mạng bấy giờ.

Chân dung cụ Nguyễn Văn Tố (1889 - 1947). (Nguồn ảnh: Internet)
Để giải quyết nạn dốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh lập ngành Bình dân học vụ. Góp phần công việc trọng đại này, Nguyễn Văn Tố đã chủ động bàn với Ban trị sự về việc chuyển tổ chức cùng toàn bộ tài sản vật chất và những kinh nghiệm của Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ sang ngành Bình dân học vụ. Có điều kiện thuận lợi ấy, Bộ Giáo dục đã mở Hội nghị toàn quốc Bình dân học vụ, phát động và phát triển phong trào bình dân học vụ. Nhờ vậy, hơn hai triệu người đã được xóa nạn mù chữ trong một thời gian ngắn.
Thời gian đầu sau khi giành chính quyền, trong bối cảnh đất nước cực kỳ khó khăn, thù trong giặc ngoài, công việc chính quyền mới rất nặng nề, khẩn trương, nhưng chưa bao giờ có thể làm nhụt ý chí và tấm lòng nhiệt thành yêu nước của nhà trí thức Nguyễn Văn Tố. Nguyễn Thiệu Lâu nhớ lại, khi đến gặp Nguyễn Văn Tố, có phàn nàn “công việc đã nhiều lại khó, nhân viên đã ít lại kém”, Nguyễn Văn Tố trả lời: Chưa làm được gì đã nản rồi. Công việc không có ta phải bới ra mà làm và dù có khó đến đâu ta cũng phải có một giải quyết mà tự ta định đoạt… Chúng ta trước nay chỉ là những anh mọt sách, bây giờ có công việc cho quốc gia dù công việc nhiều khó như thế nào cũng phải cố mà làm.
Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (tháng 1/1946), bầu Quốc hội khoá I, Nguyễn Văn Tố đã trúng cử đại biểu Quốc hội với tư cách là đại biểu của Nam Định. Tiếp đó, tại Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội (2/3/1946), với tài năng, uy tín, đức độ của mình, ông đã được Quốc hội bầu là Trưởng Ban Thường trực đầu tiên của Quốc hội - chức danh tương đương như Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Nguyễn Văn Tố đã cùng các thành viên trong Ban nhanh chóng bắt tay vào củng cố nhà nước, xây dựng nền dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng chiến trong toàn quốc. Để có một Chính phủ hợp pháp và có hiệu lực mạnh mẽ, Quốc hội đã công nhận và trao quyền bính cho Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Bên cạnh đó, trong tình thế cấp bách, thù trong giặc ngoài để vừa giải nhiều vấn đề đối nội và đối ngoại quan trọng một cách khẩn trương, nhanh chóng vừa đảm bảo vai trò Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất, nên trong nhiều phiên họp thường kỳ hoặc đặc biệt của Hội đồng Chính phủ có sự tham dự và góp ý của Nguyễn Văn Tố với tư cách Trưởng Ban Thường trực Quốc hội. Cùng với Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ, Cụ Nguyễn Văn Tố đã bàn bạc, đi đến thống nhất quyết định một số chủ trương đối nội và đối ngoại như thực hiện đoàn kết dân tộc, xây dựng mặt trận quốc gia liên hiệp và thống nhất để chống xâm lăng, giữ vững chính quyền, kiến thiết đất nước và thực hiện chính sách ngoại giao thân thiện với các nước trên thế giới; nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận; xúc tiến thêm các hoạt động thúc đẩy mối quan hệ với Trung Hoa và Pháp.
Sau hơn 8 tháng kể từ kỳ họp thứ nhất của Quốc hội, để tiếp tục phát triển thành quả của cách mạng và đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, theo yêu cầu của Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội đã triệu tập Quốc hội họp kỳ thứ hai tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 28-10 đến 9/11/1946. Nguyễn Văn Tố, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội đọc diễn văn khai mạc khẳng định những kết quả đạt được của Chính phủ và Quốc hội trong 8 tháng đã qua; trả lời các câu hỏi của các đại biểu. Tại cuộc họp này, Quốc hội đã thảo luận và thông qua nhiều Nghị quyết về nội trị, ngoại giao, biểu quyết tán thành danh sách Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu ra trình diện trước Quốc hội, thảo luận và thông qua dự án Luật lao động. Đặc biệt, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một bản Hiến pháp dân chủ, khẳng định quyền dân tộc độc lập, thống nhất lãnh thổ và quyết tâm bảo vệ đất nước của toàn dân, xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa. Cùng ngày, Quốc hội đã bầu Ban thường trực tại kỳ họp thứ hai gồm 18 vị do cụ Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng Ban.
Hoàn thành xuất sắc trọng trách là Trưởng Ban Thường vụ Quốc hội, khi kháng chiến bùng nổ, Nguyễn Văn Tố lên chiến khu với tư cách là một Bộ trưởng không Bộ. Bằng nhiều hoạt động cụ thể, Nguyễn Văn Tố góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương “toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến” của Đảng và Nhà nước. Những ngày sơ tán, sống với đồng bào Việt Bắc, ông đã sống chan hòa, gắn bó và thật sự hòa mình với quần chúng, với phong trào cách mạng.

Cụ Nguyễn Văn Tố trong bữa tiệc hằng năm của Hội truyền bá chữ Quốc ngữ. Trong ảnh: Cụ Nguyễn Văn Tố mặc áo dài đen (hàng trên cùng, thứ bảy từ trái sang). Nguồn: Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.
Ngày 7/10/1946, giặc Pháp tiến hành một trận tập kích bằng quân dù đổ bộ xuống Bắc Kạn hòng bắt sống, hoặc tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ý đồ của Pháp thất bại, các nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc kháng chiến đã rút lui an toàn. Riêng Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố sa vào tay giặc. Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại rằng: quân Pháp đã bắt được một cụ già trông chững chạc, khảng khái trực tiếp bằng tiếng Pháp yêu cầu Chính phủ Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược. Khi biết rõ cụ Nguyễn Văn Tố là một nhân sỹ nổi tiếng, quân Pháp đã dùng mọi cách dụ dỗ, mua chuộc nhưng không lay chuyển được Cụ. Chúng đã tra tấn Cụ vô cùng tàn bạo, thậm chí đóng cả đinh vào người, để buộc Cụ kêu gọi những chiến sỹ Việt Minh ra hàng..., nhưng không lay chuyển ý chí của Cụ. Bất lực, quân địch đã thủ tiêu Cụ ở một cửa hang đá tại một vùng thuộc Bạch Thông, Bắc Cạn. Cụ Tố hy sinh là một tổn thất cho cách mạng Việt Nam.
“Ngàn thu sẽ vẻ vang, bất diệt” là lời đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong lời điếu nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Văn Tố. Tấm gương nhà trí thức yêu nước Nguyễn Văn Tố sẽ luôn là biểu trưng cao đẹp của trí thức Việt Nam nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.
TS. Lê Thị Hằng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
https://www.tuyengiao.vn


