HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN TỐ VỚI NGHIÊN CỨU VÀ TÔN VINH VĂN HÓA DÂN TỘC
Tấm gương nhà trí thức yêu nước Nguyễn Văn Tố sẽ luôn là biểu trưng cao đẹp của trí thức Việt Nam nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.
HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN TỐ VỚI NGHIÊN CỨU VÀ TÔN VINH VĂN HÓA DÂN TỘC
Tấm gương nhà trí thức yêu nước Nguyễn Văn Tố sẽ luôn là biểu trưng cao đẹp của trí thức Việt Nam nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội Nguyễn Văn Tố (ngoài cùng bên phải hàng dưới) và các thành viên Chính phủ Cách mạng lâm thời, năm 1945.
Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (5/6/1889) thuộc thế hệ những trí thức của buổi giao thời khi nền học vấn Hán Nôm dần hết vai trò và chuyển sang nền văn hóa khoa học chữ Pháp - Quốc ngữ. Ông xuất thân trong một gia đình Nho học ở Hà Nội, từ nhỏ đã được đào tạo về Hán Nôm, có một vốn kiến thức phong phú về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Lớn lên, ông học tiếng Pháp, tốt nghiệp trường Thông ngôn và sau đó làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác cổ. Có thể nói, Nguyễn Văn Tố vừa là một trí thức Nho học, vừa là một trí thức Tây học và được xếp vào hàng “tứ kiệt” thời kỳ đó.
Tốt nghiệp trường Thông ngôn, tương đương với bậc trung học, Nguyễn Văn Tố được bổ về nhân viên Học viện Viễn Đông Bác cổ. Làm việc trong một trung tâm khoa học nhân văn, nơi tập trung các nhân vật danh giá bậc nhất mà số đông là người Pháp, Nguyễn Văn Tố thể hiện xuất sắc bản lĩnh, trí tuệ và cốt cách của một trí thức Việt. Là một nhân viên mới đỗ trung học bản xứ, nhưng ông đã đảm trách một nhiệm vụ quan trọng là Thư ký Tạp chí của Đông Phương Bác Cổ Học viện và từ nhân viên tạm tuyển, trở thành Chủ sự Học viện Viễn Đông Bác cổ. Vì thế, ngay cả với Nguyễn Thiệu Lâu (giáo sư trường Khải Định - Huế có 5 bằng cử nhân về khoa học xã hội), khi nhờ Nguyễn Văn Tố xem bản thảo, ông đã phát hiện ra các loại lỗi khác nhau khiến ông Lâu cũng phải tâm phục, khẩu phục. Là một trí thức thuộc địa, ở một vị thế thấp hơn rất nhiều so với người cộng sự phương Tây, nhưng đối với nhiều học giả người Tây, ngay cả với Giám đốc Học viện, ông thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của họ.
Làm việc trong Viện Hàn lâm của Chính phủ Pháp, nhưng Nguyễn Văn Tố luôn giữ thói quen là mặc bộ đồ cổ truyền: khăn xếp, áo the thâm, ô lục soạn. Nghiên cứu văn hóa phương Tây, đồng thời, ông rất say mê nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam. Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố đã viết, dịch, biên tập và hiệu đính nhiều tài liệu có giá trị về văn hóa, lịch sử. Ngoài thời gian làm việc ở công sở, ông thường viết bài in trên báo chí tiếng Việt như: Tri Tân, Đông Thanh, Thanh Nghị… và các báo tiếng Pháp về nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, khảo cổ, nghệ thuật... Ông là một trong những thành viên Hội Trí Tri và năm 1934, được bầu làm Hội trưởng thay cho Phạm Quỳnh được Bảo Đại mời vào kinh đô Huế làm Thượng thư Bộ học. Trên Tập san của Hội Trí Tri, đặc biệt trong khoảng từ 1932 đến 1936, ông đã viết nhiều bài nghiên cứu quan trọng bằng tiếng Pháp về lịch sử, khảo cổ, văn học, như “Tiền sử Bắc Kỳ”, “Nguồn gốc về chữ Quốc ngữ”, “Sử học và khảo cổ học Việt Nam”, “Bắc Kỳ vào thế kỉ XVII”… Ông đã soạn thảo được hai bộ sử học lớn là “Đại Nam dật sử” và “Sử ta so với sử Tàu”. Hai bộ sử trên đã được ông nghiên cứu khoa học, công phu, đối chiếu nhiều nguồn thư tịch; tranh luận kịch liệt với các nhà sử học Pháp, Đông Dương, để làm sáng tỏ các vấn đề với đầy đủ minh chứng một cách khoa học, cụ thể.
Trong bối cảnh thực dân Pháp đang tích cực thi hành chính sách nô dịch và áp bức về văn hóa, trong xu hướng tâm lý nhiều nhà học giả bấy giờ đề cao văn hóa phương Tây, coi thường giá trị văn hóa dân tộc; việc một học giả An Nam vẫn miệt mài nghiên cứu và tôn vinh giá trị văn hóa dân tộc cũng chính là sự biểu hiện tấm lòng yêu nước nồng nàn, của tinh thần đấu tranh chống nô dịch, áp bức về văn hóa. Những hoạt động ấy đã góp phần thức tỉnh, khích lệ lòng yêu nước và dấy lên yêu cầu chấn hưng văn hóa dân tộc.
TS. Lê Thị Hằng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
https://www.tuyengiao.vn



