Bài viết

HỌC TẬP TẤM GƯƠNG YÊU NƯỚC NỒNG NÀN VÔ HẠN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Hưng Yên07/01/2026Giáo dục4 lượt xem0 lượt chia sẻ


Trong những tấm gương cần học tập, noi theo đó, có lẽ tấm gương yêu nước nồng nàn, vô hạn chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt cuộc đời và hoạt động, sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với ý thức sinh tồn và truyền thống lâu đời của một dân tộc Việt Nam bất khuất, quật khởi, không bao giờ bị đồng hoá, khuất phục trước nạn ngoại xâm dù đã từng bị “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”, khi khởi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định như một tổng kết khái quát lịch sử Việt Nam: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (1). Và cũng trên tinh thần yêu nước vốn có của nhân dân VN với truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, mà trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã hô hào: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người VN thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc” (2). Đây cũng là tiền đề quan trọng của chủ trương và khẩu hiệu hành động “Đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, đại thành công” trong đấu tranh giữ nước và xây dựng đất nước trong chiến tranh chống ngoại xâm cũng như trong xây dựng phát triển thời bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn khẳng định: “Tổ quốc – đất nước là của tất cả mọi người VN và nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Tổ quốc và nhân dân có mối quan hệ máu thịt, theo nghĩa đồng bào”. Khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi người phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (2). Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn tin tưởng ở nhân dân và thường xuyên nhắc nhở các cấp chính quyền, cán bộ Đảng viên nắm vững nguyên lý hành động: có dân là có tất cả vì “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” (1). Từ đó, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ, Đảng viên phải thường xuyên đảm bảo: “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân thì phải hết sức tránh. Mục đích hoạt động của các cấp, các ngành, của mọi cán bộ, Đảng viên là nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, cả đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần” (2). Chính nhờ thấm sâu tinh thần trên của chủ tịch Hồ Chí Minh, mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ngay sau ngày thắng lợi mùa xuân 1975 thống nhất đất nước, khi ở cương vị Bí thư Thành uỷ TP.HCM, đã tích cực kêu gọi hoà hợp, hoà giải dân tộc, đoàn kết mọi nhà như một và ông cố thủ tướng đã phát biểu với các bạn trẻ thanh niên xung phong tại vườn Tao Đàn một câu nói ngắn gọn và mỗi tiếng có sức lan toả đối với người VN cả trong và ngoài nước để nhắn nhủ và động viên tinh thần thế hệ trẻ, phê phán những định kiến về lý lịch trong sử dụng nguồn nhân lực thời bấy giờ là “Không có ai chọn cửa để sinh ra cả”.

Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sự đúng đắn, tuyệt vời khi khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Cho nên phải biết tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và xác định vì nhân dân mà phục vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế” (1). Cho nên phải biết tôn trọng dân, trước hết là tôn trọng quyền làm chủ của dân, tôn trọng ý kiến của dân. Mà theo chủ tịch Hồ Chí Minh, thì làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân, mà làm đầy tớ thì phải học dân, hỏi dân, hiểu dân. Có biết làm học trò của dân, thì mới làm thầy học dân, mới lãnh đạo dân được (1). “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (1). Trong thời bình xây dựng phát triển đất nước phải biết chống tham ô hối lộ, lãng phí để đảm bảo công bằng xã hội vì “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” (1). Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các cán bộ quản lý Nhà nước qua câu nói của V.I.Lénine: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người Cách mạng”.

Cả cuộc đời không vợ con chỉ dồn mọi tâm lực cho sự nghiệp phục vụ Tổ quốc, giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn luôn thể hiện bản lĩnh cao cả của người làm chính trị Cách mạng, không sợ hi sinh, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù, kể cả lúc bị tù tội, vì “muốn nên sự nghiệp lớn, thì tinh thần càng phải cao”, phải dũng cảm, không ngại gian khổ, đau đớn và lo về tính mạng của mình, mà lo cho cách mạng, buồn khi không được hoạt động (1). Ngay thời điểm chuẩn bị khởi nghĩa kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định với quốc dân đồng bào trách nhiệm cao cả của mình: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề” (1). Sau thắng lợi bước đầu của Cách mạng tháng 8, trong 24 năm lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn ấp ủ và khẳng định tấm lòng yêu nước nồng nàn, trong sáng, vô hạn của mình khi xác định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích làm cho ích quốc lợi dân” (2). Và khi trả lời báo Granma (Cuba), chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Khi ở địa vị lãnh đạo đất nước, chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: “Tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” (1). Và cả khi sắp nhắm mắt lìa đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng để lại di chúc: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” (1).

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn có tấm gương điển hình “Nói và làm là một” “tri hành hợp nhất”, vì dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách” (2). Điều đó cũng thể hiện chữ tín đối với nhân dân, xây dựng và giữ vững sự tin cậy, tín nhiệm của nhân dân đối với chính quyền, đối với cán bộ công chức vậy.

Tấm lòng yêu nước sắt son, nồng nàn, trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “luôn luôn giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc trong đấu tranh giành độc lập, cũng như xây dựng đất nước”, đã truyền được nhiệt huyết hết lòng vì dân tộc, vì Tổ quốc, động viên được hào khí chủ nghĩa anh hùng cách mạng “ra ngỏ gặp anh hùng” của thế hệ hôm qua và cả ý thức trách nhiệm giữ nước, bảo vệ sơn hà của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là sự tiếp nối có tính truyền thống “yêu nước thương nòi” của cả dân tộc Việt Nam qua 4000 ngàn năm lịch sử từ các vị anh hùng liệt nữ như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi – Nguyễn Trãi, Quang Trung, đã đấu tranh giữ nước chống trả thắng lợi vẻ vang trước các đế quốc phong kiến xâm lược, mặc dù lịch sử nước nhà có lúc rơi vào tình huống “châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiên”, để khẳng định chủ quyền đất nước:

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn