Hồi ký Hoa lửa biên cương
Tôi nhập ngũ vào một buổi sáng tháng Năm năm 1978. Lúc rời làng, mẹ tôi đứng ở đầu ngõ, không khóc, chỉ dặn một câu rất khẽ: “Đi đi con, đất nước đang cần.” Câu nói ấy theo tôi suốt những năm tháng quân ngũ, theo cả những đêm dài đứng gác nơi biên cương gió lạnh cắt da. Tôi được biên chế về C1 – D1 – E256, Trung đoàn Phòng không 29, Quân khu 2. Những ngày đầu ở Thác Bà, chúng tôi còn là những chàng trai rất trẻ, lúng túng với ba lô nặng trĩu, với kỷ luật thép, nhưng trong lòng ai cũng có một niềm tin giản dị: làm lính là để giữ nước
Cuối năm 1978, đơn vị nhận lệnh hành quân lên Hoàng Liên Sơn. Đường đi dài, núi cao, sương dày, mỗi bước chân như nặng thêm vì cảm giác chiến tranh đang đến rất gần. Phong Hải, Bảo Thắng đón chúng tôi bằng những đêm lạnh và những buổi sáng mù sương. Trận địa cao xạ được dựng lên vội vã nhưng chắc chắn. Những khẩu pháo hướng thẳng lên bầu trời, lặng lẽ mà kiêu hãnh. Khi ấy, tôi bắt đầu hiểu thế nào là chờ đợi trong chiến tranh – chờ không phải vì sợ, mà vì mệnh lệnh, vì trách nhiệm
Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, chiến tranh thực sự gõ cửa. Tin quân Trung Quốc tràn qua Mường Khương lan về từng tổ, từng tiểu đội. Làng mạc bị đốt phá, dân quân và bộ đội ta chiến đấu trong thế chênh lệch. Ở các điểm cao, đặc biệt là đỉnh 734 Bản Lầu, những người lính bộ binh giữ đất bằng máu. Còn chúng tôi, ở Phong Hải, nghe tiếng pháo vọng lại từ xa, lòng nóng như lửa. Địch chỉ cách vài kilômét, rất gần, nhưng đơn vị không được phép nổ súng. Vì súng Cao xạ chỉ bắn máy bay. Chờ đợi lúc ấy là thử thách lớn nhất của người lính. Có những đêm, tôi siết chặt tay vào báng súng, tự hỏi: nếu kẻ thù xuất hiện trước mắt, liệu mình có đủ bình tĩnh để vẫn chấp hành mệnh lệnh không
Ngày 23 tháng 2, quân địch tiến tới ngã ba Bản Việt. Tiếng súng, tiếng pháo làm núi rừng rung chuyển. Đến tối 28 tháng 2, khi địch bắt đầu rút lui, đơn vị chúng tôi cơ động theo sau, vừa tiến quân vừa thu dọn chiến trường. Ba ngày liên tục, ăn vội, ngủ vội, đi trong mùi thuốc súng còn nồng, trong những vết xích xe, những hố pháo còn âm ỉ. Chiến tranh không chỉ là tiếng súng, mà là những dấu vết lặng lẽ còn sót lại, ám vào ký ức người lính rất lâu sau này
Sáng ngày 3 tháng 3 năm 1979, trên con đường chiến trường, chúng tôi gặp một cảnh tượng mà đến giờ tôi vẫn không quên. Một chiến sỹ Quân y của ta đã hi sinh và chúng tôi đã đưa đồng chí đó quy tụ về nghĩa trang Km6. Và trong ngày hôm đó chúng tôi cũng thấy một xác chết của địch biệt hiêu C7 khi chết trong ba lô toàn là hạt Bo Bo. Buổi tối hôm đó đơn vị chúng tôi nghỉ ngơi và cùng ngồi chuyện trò, chung tôi nói vui với nhau Quân địch tuy đông nhưng chỉ ăn hạt Bo Bo làm sao đánh lại được chúng ta rồi kết thúc câu chuyện trong tiếng cười sau bao nhiêu tháng ngày ròng rã chiến ấu
Những ngày sau đó, đơn vị tiếp tục chốt giữ khu vực nông trường Phong Hải, kilômét 24. Đêm đến, tôi đứng gác, nhìn về phía cột mốc biên giới mờ trong sương. Khi ấy, biên giới không còn là khái niệm xa xôi trên bản đồ, mà là nơi có máu của đồng đội, có mồ của những người lính vô danh. Tôi hiểu rằng bảo vệ biên giới chính là bảo vệ mái nhà, bảo vệ mẹ tôi và bao người mẹ khác đang chờ con nơi hậu phương
Năm 1982, tôi xuất ngũ trở về địa phương. Ba lô nhẹ hơn ngày nhập ngũ, nhưng ký ức thì nặng hơn rất nhiều. Chiến tranh đã lùi xa, đời sống trở lại bình thường, nhưng trong tôi vẫn cháy âm ỉ một ngọn lửa. Đó là ngọn lửa của những tháng năm tuổi trẻ đã gửi lại nơi biên cương, của những đồng đội không bao giờ trở về. Mỗi khi nhớ lại, tôi không thấy mình là người hùng. Tôi chỉ là một người lính đã sống trọn với lời dặn của mẹ năm xưa: đi để giữ nước. Và trong cuộc đời mình, đó là điều thiêng liêng nhất


