Hồi Ký: Khúc Trầm Tích Thời Hoa Lửa – Lương Văn Tiến
Bác Tiến sinh năm 1954 tại Bản Bôn, đúng vào cái năm quê hương hát khúc khải hoàn Điện Biên Phủ. Lớn lên giữa tai ương bom đạn, dòng máu yêu nước cứ thế lớn dần trong lồng ngực. Cho đến ngày 19 tháng 8 năm 1973, khi vừa tròn hai mươi tuổi đời, Bác chính thức bước lên xe hướng về phía tiền tuyến, để lại sau lưng bản làng thân thương.

Giai đoạn 1: Tiếng gọi tuổi hai mươi và những ngày đầu quân trường (1973)
Bác Tiến sinh năm 1954 tại Bản Bôn, đúng vào cái năm quê hương hát khúc khải hoàn Điện Biên Phủ. Lớn lên giữa tai ương bom đạn, dòng máu yêu nước cứ thế lớn dần trong lồng ngực. Cho đến ngày 19 tháng 8 năm 1973, khi vừa tròn hai mươi tuổi đời, Bác chính thức bước lên xe hướng về phía tiền tuyến, để lại sau lưng bản làng thân thương.
Nơi dừng chân đầu tiên của Bác là phố Lạc Lâm, Triệu Sơn, Thanh Hóa. Bác được biên chế vào Trung đoàn 14 để tham gia khóa huấn luyện chiến sĩ mới kéo dài ba tháng. Những ngày tháng ấy gian khổ nhưng đầy ắp kỷ niệm. Cái nắng cháy da của dải đất miền Trung và những bài tập hành quân mang vác nặng, lăn lộn trên bãi tập đã nhanh chóng Bác luyện một chàng trai Bản Bôn thư sinh thành một người lính thực thụ, sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách.
Giai đoạn 2: Giữ "lửa" cho tiền tuyến tại tọa độ chết Vĩnh Linh (Cuối năm 1973)
Rời quân trường, Bác nhận lệnh hành quân thẳng vào Quảng Trị – vùng đất khốc liệt nhất của cuộc chiến lúc bấy giờ. Đơn vị giao cho Bác nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại kho chất cháy, chất nổ thuộc Bộ Tư lệnh 559, đóng tại Vĩnh Linh.
Ai đã qua thời chiến đều biết, giữ kho "hỏa dược" giống như ngồi trên đống lửa. Mỗi thùng thuốc nổ, mỗi quả đạn đều là mồ hôi, là xương máu của đồng bào miền Bắc chi viện cho miền Nam. Giữa những trận mưa bom bão đạn của kẻ thù, chúng Bác phải căng mình bảo vệ kho hàng an toàn, không để một tia lửa nhỏ nào làm ảnh hưởng đến nguồn tiếp tế của toàn mặt trận. Cái chết luôn cận kề, nhưng lòng quyết tâm chưa bao giờ lung lay.
Giai đoạn 3: Bám trụ đại ngàn Trường Sơn và đất lửa Khe Sanh (1974 - 1976)
Đến năm 1974, cuộc chiến bước vào giai đoạn chuyển mình căng thẳng. Bác cùng đơn vị chuyển dịch theo mạch máu giao thông chiến lược – Đường 16 thuộc hệ thống Đường Trường Sơn. Địa bàn bám trụ mới của chúng Bác là khu Tây Áo và Dốc Khỉ. Ở đây, rừng sâu hiểm trở, sốt rét rừng hành hạ, cộng thêm máy bay địch săn lùng gắt gao đêm ngày. Vậy mà, những người lính kho chất cháy chất nổ chúng Bác vẫn gan góc bám trụ, đảm bảo từng chuyến hàng thông suốt cho xe vào Nam.
Sau những ngày tháng băng rừng lội suối, Bác tiếp tục chuyển đến thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đứng giữa Khe Sanh thời kỳ đó, dù tiếng bom đã bớt gầm rú nhưng mùi thuốc súng, những xác xe tăng, hầm hào công sự vẫn ngổn ngang. Chúng Bác lại bắt tay vào nhiệm vụ mới, bảo vệ và thu gom khí tài, chuẩn bị cho những ngày non sông thống nhất.
Giai đoạn 4: Hạnh phúc giản dị nơi hậu phương (1977)
Năm 1977, hai năm sau ngày đất nước hoàn toàn im tiếng súng, Bác mới có cơ hội nhận quyết định về thăm lại Bản Bôn sau bao năm biền biệt. Quê hương sau chiến tranh bắt đầu thay da đổi thịt.
Chính trong chuyến về phép lịch sử ấy, Bác đã bén duyên và kết hôn với người con gái quê nhà. Đám cưới thời hậu chiến tuy giản dị, thiếu thốn đủ đường nhưng ngập tràn tiếng cười và sự chúc phúc của họ hàng, làng xóm. Cưới vợ xong, gửi lại tình yêu nơi hậu phương, Bác lại gác tình riêng để tiếp tục lên đường hoàn thành nốt nghĩa vụ của một người quân nhân.
Giai đoạn 5: Trở về bản làng, giữ vững phẩm chất người lính (1981 đến nay)
Năm 1981, Bác chính thức hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc, cầm quyết định xuất ngũ trở về quê hương Bản Bôn thân yêu. Hành trang trở về của Bác không có gì ngoài chiếc ba lô sờn cũ và những ký ức không bao giờ phai mờ về một thời hoa lửa ở Quảng Trị, Trường Sơn.
Bước ra khỏi cuộc chiến, Bác tự nhủ mình may mắn hơn biết bao đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường. Vì vậy, Bác luôn cố gắng sống sao cho xứng đáng. Trở lại với đời thường, Bác tích cực tham gia vào các hoạt động của thôn bản, nỗ lực trở thành một cựu chiến binh gương mẫu. Từ việc làng, việc bản cho đến những phong trào chung, Bác đều chung tay gánh vác cùng bà con, góp chút sức lực nhỏ bé của mình để xây dựng Bản Bôn ngày càng ấm no, hạnh phúc.



