Người có công giúp đỡ cách mạng

Hồi ký người cán bộ lãnh đạo cách mạng xuất thân từ nông dân

Năm nay ở tuổi 92, sức khỏe đồng chí Hai Phòng ngày một yếu đi do di chứng từ hậu quả của chiến tranh để lại. Tuy nhiên đồng chí vẫn còn minh mẫn để kể lại những trang hồi ký về hành trang cuộc đời, sự nghiệp của bản thân sống, chiến đấu, lao động, học tập, qua ba chế độ xã hội đến nay

Đồng Tháp05/05/2026Chi đoàn Công an xã Thanh Bình (Chi đoàn Công an xã Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp)3 lượt xem0 lượt chia sẻ


Đồng chí Bùi Văn Phòng (tên thường gọi là đồng chí Hai Phòng), sinh năm 1934, quê quán ở xã Tân Phú, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp). Cha là cụ ông Bùi Văn Ngỗng, làm nghề thợ thủ công uốn lưỡi câu cá, mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Láng, làm nội trợ. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khó, thuộc tầng lớp bần nông, chỉ biết chài lưới, đánh bắt cá và làm thợ thủ công, sản xuất lưỡi câu (câu cá) bán, 6 tháng mùa nước nổi gia đình sản xuất lưỡi câu bán nhỏ lẻ, 6 tháng mùa khô chài lưới đánh bắt cá, ngoài ra còn thuê 10 công đất để trồng lúa, đến mùa phải đóng tô cho địa chủ, cuộc sống hết sức vất vả. Cụ ông Bùi Văn Ngỗng mất năm 1989 vào tuổi 84, vài năm sau (năm 1997) cụ bà Nguyễn Thị Láng cũng qua đời theo ông vào tuổi 85.

Ảnh: Đồng chí Đại tá Bùi Văn Phòng, nguyên Phó Giám đốc Công an tỉnh Đồng Tháp, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy an ninh Đồng Tháp

Trước năm 1945, gia đình đồng chí Hai Phòng sống ở ấp Tân Hòa, xã Tân Phú, nhà nằm ở phía tây con sông Đốc Vàng Hạ - là con đường giao thông huyết mạch về thủy bộ trong vùng, thuộc vùng tạm chiếm của giặc, chịu nhiều sự áp bức, bất công của chính quyền thực dân nên vào năm 1949, cả gia đình phải di dời vào vùng sâu thuộc xã Tân Phú B, đây là vùng căn cứ kháng chiến của cách mạng. Nơi đây cũng là môi trường thuận lợi để bản thân đồng chí tiếp xúc, học tập, giác ngộ lý tưởng cách mạng, qua nhiều tiền bối cách mạng đã giáo dục vận động tham gia cách mạng như: đồng chí Lê Kim Tôn, ông Sáu Thưởng, ông Tư Dợn… Đồng chí Hai Phòng thường tới lui được các tiền bối dạy dỗ và truyền bá chủ nghĩa Mác Lê-nin, ý nghĩa cách mạng giải phóng dân tộc trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược.

Năm 1949, chứng kiến một trận càn quét do Pháp, chỉ huy lực lượng giáo phái Nguyễn Giác Ngộ cầm đầu, có pháo binh, máy bay và xe tăng yểm trợ càn quét vào rạch Đốc Vàng Hạ, mục đích chiếm lĩnh Đồng Tháp Mười khôi phục lại hệ thống đồn bót trước đây bị cách mạng phá hủy, được bọn chúng xem là vị trí chiến lược. Biết được ý đồ của địch, Quốc vệ đội cùng phối hợp lực lượng dân quân và nhân dân xã Tân Phú trên tuyến rạch Đốc Vàng Hạ phục kích chống càn đánh địch ác liệt, bộ đội Việt Minh tiêu diệt nhiều tên địch và gây thương vong cho nhiều tên khác, bắn rơi một máy bay, phá vỡ kế hoạch khôi phục của địch, giữ vững trận địa.

Tháng 4/1955, sau đình chiến đồng chí Hai Phòng cưới vợ. Năm 1959, sống trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, làng quê bị bọn cường hào ác bá thẳng tay đàn áp nhân dân vô tội, nhất là những gia đình bị chúng nghi là có quan hệ với Việt Minh sẽ bị chúng bắt bớ, giam cầm, tra tấn dã man, thậm chí bị cầm tù hay đày đi Côn đảo… Bất bình trước cảnh sống không có tự do, cả gia đình đồng chí Hai Phòng chuyển nơi cư trú từ xã Tân Phú B về ấp Tân Hòa, xã Tân Phú A, nơi đây là căn cứ cách mạng. Sống trong vùng bị kiềm kẹp của giặc, được cán bộ xã Tân Phú móc nối hoạt động cơ sở mật theo hệ tam tam do đồng chí Đỗ Thái Sơn tổ chức và trực tiếp lãnh đạo hoạt động công tác hợp pháp. Tổ của đồng chí Hai Phòng gồm 03 đồng chí: Ba Tụi, Năm Bé và Hai Phòng. Nhiệm vụ tổ chức giao cho tổ là tuyên truyền vận động cách mạng cho các tầng lớp thanh niên, phụ nữ và xây dựng cơ sở mật để đấu tranh chính trị, đòi yêu sách, thực hiện dân sinh dân chủ, đòi tự do đi lại làm ăn trong vùng Đồng Tháp Mười, vận động thanh niên, phụ nữ không đi lính cho giặc, không vào tổ chức thanh niên, phụ nữ cộng hòa của Diệm tổ chức. Cùng lúc, tổ chức rải truyền đơn, treo băng cờ, khẩu hiệu, chống đôn quân bắt lính, chống bắt sâu, nộp thuế…

Đồng khởi năm 1960 – 1961, đồng chí Hai Phòng là Ủy viên Ban Chấp hành Thanh niên xã phụ trách ấp Tân Hòa, xã Tân Phú, nhiệm vụ lúc bấy giờ là vận động phong trào Thanh niên tình nguyện đi du kích, đi bộ đội, tham gia xây dựng xã, ấp chiến đấu. Tổ chức hai lực lượng vừa hoạt động bí mật, vừa hoạt động công khai hợp pháp. Phương pháp vận động là ban đầu vận động từ người thân quen, bạn bè thân cận, từng bước vận động rộng ra cộng đồng khu dân cư, tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên về lý tưởng cách mạng để chống sự đàn áp, bắt bớ của Ngô Đình Diệm, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, để hưởng được độc lập tự do, không còn cảnh bắt bớ, đàn áp của giặc…

Trong năm 1961, tổ chức cử đồng chí Hai Phòng đi học lớp Thanh niên do Thanh niên tỉnh mở với thời gian 03 tháng. Địa điểm tại rạch Bằng Lăng, đây là nơi tiếp giáp của 3 tỉnh: Định Tường, Kiến Tường, Kiến Phong, lợi dụng địa hình tiếp giáp 03 tỉnh để dễ dàng lẫn tránh khi địch càn quét.

Ngày 09/12/1962, đồng chí Hai Phòng được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam. Ngày 14/5/1963, được chuyển Đảng chính thức. Đầu năm 1964, giữ chức Chi ủy viên Chi bộ, Trưởng Ban An ninh xã Tân Phú.

Mùa nước nổi năm 1963, đồng chí được tham gia học lớp chính trị có tên là lớp Phạm Hùng 03 tháng ở xã Đốc Binh Kiều. Học được nửa thời gian, trường phải di dời đến xã Hòa Bình do địch càn bố, để đảm bảo an toàn cho cán bộ và học viên nên lớp học phải dời đi. Đến giữa năm 1964, tiếp tục được cử đi học lớp Điệp báo 04 tháng ở Ban An ninh R miền Nam, lớp học tổ chức tại tỉnh Tây Ninh.

Đầu năm 1965 đến năm 1970, đồng chí Hai Phòng được giao giữ chức Phó Ban An ninh huyện Thanh Bình. Năm 1971, đồng chí là Huyện ủy viên, Trưởng Ban An ninh huyện Thanh Bình. Đến năm 1973, được cử đi học lớp An ninh R – An ninh miền Nam. Lớp học ban đầu tổ chức tại tỉnh Tây Ninh nhưng do không an toàn nên phải dời sang nước bạn Campuchia ở tỉnh Kampong Cham.

Tháng 4/1975 đến tháng 6/1975, được giao quyền Bí thư Huyện ủy đồng thời là Trưởng Ban An ninh huyện Thanh Bình. Đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào khoảng tháng 3/1975, Tỉnh ủy đã tổ chức một bộ phận chỉ huy chiến dịch do đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy là đồng chí Sáu Thượng và đồng chí Tư Khai – Tỉnh đội trưởng chỉ huy bao gồm: lực lượng quân sự, công an, binh vận, Mặt trận và các đoàn thể tham gia, vì đây là vùng tôn giáo, bộ phận Mặt trận đóng tại huyện Thanh Bình chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Thanh Bình. Lúc này đồng chí Hai Phòng là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Ban An ninh huyện được phân công chịu trách nhiệm mũi Tân Phú, cũng là mũi cứ điểm trung tâm quận lỵ của địch. Chiến dịch khởi đầu đánh chìm quân Thanh Bình vào đêm 04/4/1975, đơn vị đồng chí Hai Phòng chỉ huy được lệnh tập trung đánh đồn Láng Tượng là cứ điểm lớn của địch, là hàng rào lá chắn của quận lỵ địch lúc bấy giờ, còn các chốt, đồn khác của địch ta chỉ bao vây cầm chân địch không cho chi viện các nơi khác. Ta sử dụng Tiểu đoàn 512 còn có tên là Tiểu đoàn Quyết thắng của tỉnh Long Châu Tiền và địa phương quân của huyện giải phóng đồn Láng Tượng xong, tiếp tục vây ép đồn Cái Tre, nơi địch xem là nơi uất hận của chúng. Khi quân ta chiếm lĩnh xong tổ chức đóng chốt tại chùa Phật xã Tân Phú và chùa Phật xã Tân Thạnh. Ngày 05/4/1975, ta kêu gọi nhân dân di tản khỏi vùng chiến sự và mở cửa cho các đồn bị bao vây như: Cái Môn, Bắc Dầu Một rút chạy. Đồn Bắc Dầu Hai đầu hàng, ta thu toàn bộ vũ khí, đồn Bắc Dầu Ba sợ hãi rút chạy. Đến ngày 06/4/1975, địch bắt đầu phản công trở lại, chúng sử dụng lực lượng tổng hợp: pháo binh, xe tăng và bộ binh của tỉnh Kiến Phong đánh giằng co dữ dội với ta cho đến ngày 29/4/1975, nhưng không chiếm lại được do sức phòng thủ của ta và sự chống trả quyết liệt để giữ vững địa bàn cứ điểm quan trọng của ta và vùng giải phóng.

Đến sáng ngày 30/4/1975, Tiểu đoàn Bảo an 417 của địch do tên Thiếu tá Giữ làm Tiểu đoàn trưởng chỉ huy càn vào Láng Tượng nhằm mục đích khôi phục lại hệ thống đồn bót của chúng. Lực lượng địch càn vào giằng co với ta nhưng chúng không nổ súng, ta cũng không nổ súng mà kêu hàng, địch ngoan cố không hàng, đến chiều chúng ta rút dần ra lộ 30 về hướng Tân Thạnh ta truy kích theo bọn chúng đến tối 30/4/1975 bọn chúng tan rã tại Bãi Cả Vạng Tân Thạnh. Ta làm chủ hoàn toàn huyện Thanh Bình.

Ngày 01/5/1975, một đoàn xe thiết giáp của địch gồm 13 chiếc từ hướng Hồng Ngự rút chạy về Kiến Phong, ta chặn bắt tại cầu sắt Ba Răng, tên trung tá chỉ huy đoàn xe có yêu cầu cho chạy về vùng 4 bàn giao, ta kiên quyết ra lệnh đầu hàng và bắt toàn bộ binh lính của đoàn xe đưa về huyện quản lý tại khu nhà ma xã Tân Phú lúc bấy giờ.

Ngày 02/5/1975, địch từ các nơi tháo chạy về cố thủ vùng Cù Lao Tây phối hợp với tổng đoàn bảo an do tên Tổng Quành cầm đầu. Lúc này đồng chí Hai Phòng đã chỉ đạo cho bộ phận binh vận của huyện đẩy mạnh tuyên truyền vận động thuyết phục các gia đình có con em đi theo ngụy quân, ngụy quyền vận động lôi kéo họ về để được hưởng chính sách khoan hồng của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đồng thời, cho tên trung tá chỉ huy đoàn xe thiết giáp đang bị thương nằm điều trị tại bệnh viện huyện Thanh Bình ta đang quản lý. Đồng chí Hai Phòng yêu cầu chúng tuyển chọn 05 xe thiết giáp và người lái, xạ thủ súng lớn, bộ binh của ta theo xe chuẩn bị tiến công giải phóng Cù Lao Tây. Xe được dàn mặt trận qua sông tại xã An Phong, qua xã Tân Quới, bộ binh chia thành hai cánh quân sang sông. Cánh thứ nhất từ đuôi cồn Doi Lửa thuộc xã Tân Long hành quân lên, cánh thứ hai sang sông từ bến đò Phú Ninh sang đình Tấn Quới. Có lẽ đây là lần đầu tiên huyện ta sử dụng xe thiết giáp và con người của địch, đánh địch giải phóng Cù Lao Tây do chúng còn cố thủ.

Sáng ngày 02/5/1975, khi ta đưa bộ binh sang sông trước để dọn được cho xe thiết giáp qua tấn công sào huyệt cuối cùng của địch ở huyện Thanh Bình mà địch còn cố thủ. Khi bộ binh quân đội giải phóng sang Cù Lao Tây, lúc này tinh thần giặc khủng hoảng, riệu rã do sự tác động của công tác binh vận của ta cộng với chiến thắng của quân giải phóng các nơi là cho địch hoảng loạn, một số bỏ súng theo gia đình trở về đầu thú, trình diện, một số lẫn trốn đi nơi khác. Riêng lực lượng bảo an do tên Tập, tên Tường cầm đầu rút về Tây An cổ tự cố thủ. Trong ngày 02/5/1975, ta tiếp quản chính quyền 3 xã Cù Lao Tây và xây dựng chính quyền quân quản cách mạng toàn huyện.

Tháng 6/1975, huyện Thanh Bình, huyện Tam Nông sáp nhập lấy tên là huyện Tam Nông, lúc bấy giờ đồng chí Hai Phòng được giao làm Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban quân quản huyện Tam Nông. Sau giải phóng, chính quyền quân quản còn non trẻ, đời sống dân cư còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, trật tự xã hội mới được thiết lập chưa vững chắc, địch lợi dụng thời cơ này cài cắm lại nhiều tổ chức hoạt động chống phá cách mạng trong đó có tổ chức “Dân quân phục quốc”, đây là tổ chức liên tôn: Hòa Hảo và Công giáo do linh mục Đệ cầm đầu. Bọn chúng bí mật tổ chức lực lượng vũ trang để lật đổ chính quyền cách mạng, phần lớn lực lượng này là những phần tử ngụy quân, ngụy quyền có nợ máu với nhân dân, trốn cải tạo học tập để chống cách mạng. Bọn chúng cài cắm người vào các tổ chức của ta, tung tin đồn thất thiệt gây hoang mang cho nhân dân, nhen nhóm chờ thời cơ lật đổ chính quyền cách mạng. Nhóm này hoạt động mạnh nhất là ở vùng Cù Lao Tây, tập trung đầu não là xã Tân Huề, có lúc chúng tổ chức ám sát cán bộ ta khống chế chính quyền xã Tân Huề, thậm chí có số cán bộ không dám hoạt động. Lực lượng an ninh của ta quyết tâm theo dõi, thu thập đủ chứng cứ, đến năm 1976 ta mở vụ án “Dân quân phục quốc” bắt nhiều tên, trong đó có tên linh mục Đệ cầm đầu. Công cuộc thiết lập lại trật tự xã hội từng bước được ổn định, nhân dân an tâm lao động sản xuất, khắc phục hậu quả đói rách trước đây.

Cuối năm 1981, do nhu cầu của tổ chức, đồng chí Hai Phòng được cử đi học lớp chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc (Thủ Đức) thời gian 01 năm. Đến năm 1982, được điều động về tỉnh giữ chức vụ Phó Giám đốc Công an tỉnh Đồng Tháp, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy an ninh Đồng Tháp. Tháng 3/1983, đồng chí tiếp tục được cử đi chuyên gia Campuchia làm Phó đoàn chuyên gia tỉnh Prey Veng phụ trách chuyên gia an ninh, đến tháng 4/1987 về nước tiếp tục giữ chức vụ Phó Giám đốc Công an tỉnh Đồng Tháp, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy an ninh. Tình hình Campuchia lúc bấy giờ trình độ dân trí thấp, đời sống người dân nghèo nàn, lạc hậu, nhiều gia đình sống trong phum, sóc nghèo đói cùng cực, thiếu thốn mọi bề nên họ rất nhẹ dạ cả tin vào sự tuyên truyền đường mật của bọn xấu chống phá cách mạng Campuchia… Mục đích đồng chí Hai Phòng được cử đi lúc bấy giờ là giúp nước bạn xây dựng lực lượng an ninh nhằm giữ gìn, bảo vệ chính quyền cách mạng mới giành được từ bọn diệt chủng Pôn Pốt với phương pháp là phát động phong trào quần chúng tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng, tố giác tàn quân địch… đồng thời sử dụng lực lượng bị Pôn Pốt truy bắt, sát hại phải lánh qua Việt Nam ẩn nấp trở về xây dựng chính quyền nhân dân.

Cuối năm 1987, đồng chí Hai Phòng tiếp tục được cử đi học tập tại Liên Xô thời gian 04 tháng, sau khi về nước tiếp tục giữ chức vụ Phó Giám đốc Công an tỉnh Đồng Tháp, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy an ninh công tác liên tục đến năm 1992, đồng chí về nghỉ hưu và cư ngụ tại xã Tân Phú, sinh hoạt Đảng tại Chi bộ ấp Tân Thuận B, xã Tân Phú, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp cho đến nay.

Với những chiến công, thành tích đã đạt được trong sự nghiệp cách mạng, đồng chí Bùi Văn Phòng được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huy chương Vì an ninh Tổ quốc, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng (19/5/2003), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng (03/02/2013), Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba, Huân chương hạng Ba do Chính phủ Campuchia tặng.

Năm nay ở tuổi 92, sức khỏe đồng chí Hai Phòng ngày một yếu đi do di chứng từ hậu quả của chiến tranh để lại. Tuy nhiên đồng chí vẫn còn minh mẫn để kể lại những trang hồi ký về hành trang cuộc đời, sự nghiệp của bản thân sống, chiến đấu, lao động, học tập, qua ba chế độ xã hội đến nay. Nhằm để lại cho các thế hệ con cháu sau này biết được hành trang cuộc đời của cha ông để phấn đấu lao động, học tập, trở thành người công dân sống có ích cho xã hội tốt đẹp hôm nay./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn