Khác

HỘI NGỘ TRÊN ĐẤT NGÀN HOA

Vào dịp kỷ niệm Chiến thắng Tây Nguyên tháng 3 hằng năm, các cựu chiến binh Trung đoàn Đặc công 198 (nay là Lữ đoàn Đặc công bộ 198, Binh chủng Đặc công) khu vực Đà Lạt đều họp mặt để ôn lại những năm tháng chiến đấu hào hùng ở Mặt trận Tây Nguyên và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (tháng 4-1975)...

Hải Phòng29/03/2026Đoàn xã An Hưng (Đoàn xã An Hưng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc gặp mặt xúc động tổ chức vào tháng 3-2025 tại khách sạn Lộc Bình (số 138 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường 2, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã để lại trong chúng tôi ấn tượng khó quên, nhất là những câu chuyện chiến đấu làm ngời sáng phẩm chất anh hùng cách mạng của cán bộ, chiến sĩ đặc công.

Chủ nhân của khách sạn Lộc Bình là ông Đinh Đức Đáo, sinh năm 1954, nguyên là chiến sĩ Trung đoàn 198. Vì thế, nơi đây thường là địa điểm gặp mặt hằng năm của các cựu chiến binh Trung đoàn 198 khu vực Đà Lạt.

Đinh Đức Đáo nhập ngũ tháng 12-1971 vào Đại đội 3, Tiểu đoàn 484, Trung đoàn 568, đóng quân ở Mai Sưu, Lục Nam, Bắc Giang. Sau khóa huấn luyện chiến sĩ mới, chiến sĩ Đinh Đức Đáo cùng đồng đội hành quân vào miền Nam chiến đấu. Hành quân bộ mất 3 tháng, đơn vị mới vào đến Mặt trận Tây Nguyên (B3). Đinh Đức Đáo được biên chế về Đại đội 56, Tiểu đoàn 20, B3. Khi thành lập Trung đoàn 198 (19-8-1974) thuộc B3, Tiểu đoàn 20 biên chế về Trung đoàn, mang phiên hiệu Tiểu đoàn 1. Năm 1981, Thượng sĩ Đinh Đức Đáo chuyển ngành từ Đoàn An dưỡng 198 sang công tác ở Sở Thương nghiệp tỉnh Lâm Đồng. Ông Đáo bảo tôi: “Chuyện chiến đấu, công tác cứ hỏi Đại tá Trần Tuấn Bình, Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 198 tại Đà Lạt, vì từ khi nhập ngũ đến khi chuyển ngành, tôi đều ở cùng đơn vị với anh Bình...”.

Các cựu chiến binh Trung đoàn Đặc công 198 gặp mặt năm 2025. Ảnh: XUÂN LƯU

Đại tá Trần Tuấn Bình nghỉ hưu năm 2002 trên cương vị Trợ lý Chính sách, Phòng Chính trị, Học viện Lục quân. Ông Bình sinh năm 1948, nhập ngũ năm 1970, được đào tạo tiểu đội trưởng, sau đó biên chế trong khung huấn luyện chiến sĩ mới thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 484, Trung đoàn 568. Năm 1972, ông cùng cán bộ, chiến sĩ Đoàn 1038 (trong đó có chiến sĩ Đinh Đức Đáo) hành quân vào miền Nam. Ở B3, ông được giao làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 3, Trung đội 1, Đại đội 56, Tiểu đoàn 20. Khi thành lập Trung đoàn 198, Trần Tuấn Bình là Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 56, Tiểu đoàn 1.

“Trong đội hình Tiểu đoàn 20 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 198), tôi chỉ huy bộ đội đi trinh sát và trực tiếp đánh hàng chục trận, tiêu diệt nhiều mục tiêu quan trọng, bao gồm kho xăng dầu, đạn dược, căn cứ hậu cần-kỹ thuật, phương tiện cơ giới của địch. Trong một lần đi trinh sát để đánh kho đạn của địch ở Pleiku, tạo thế nghi binh lừa địch đầu năm 1975, do không may vướng mìn nổ nên tôi bị thương nặng (nay vẫn còn 4 mảnh kim loại trong người, là thương binh hạng 2/4). Tôi được đưa vào điều trị ở Viện Quân y 211. Sau một tháng điều trị, tôi xin về đơn vị, được cử làm Trợ lý Chính trị Tiểu đoàn 1. Tuy không trực tiếp tham gia các trận đánh trong Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh, song tôi đã nỗ lực làm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, góp phần vào thành tích chung của đơn vị”, Đại tá Trần Tuấn Bình chia sẻ.

Theo Trưởng ban liên lạc Trần Tuấn Bình, các cựu chiến binh Trung đoàn 198 khu vực Đà Lạt luôn nỗ lực khắc phục khó khăn, tích cực làm việc, hoạt động xã hội, phát huy truyền thống của Bộ đội Đặc công anh hùng. Phần lớn hội viên đều là những người trực tiếp chiến đấu, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh vào các mục tiêu: Sân bay Hòa Bình, khu kho Mai Hắc Đế, khu hậu cứ của Trung đoàn 53 ngụy trong trận mở màn Buôn Ma Thuột; giải phóng TP Đà Lạt; đánh và chốt giữ cầu Bông, cầu Sáng để đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn...

Tại cuộc gặp mặt, Đại úy, cựu chiến binh Dương Ngọc Bích, nguyên chiến sĩ Tiểu đội trinh sát của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 198 đã kể về trận đánh ở Đắk Song tiêu diệt 1 đại đội pháo binh ngụy ngày 10-3-1975 trong Chiến dịch Tây Nguyên. “Đây là trận đánh đầu tiên của tôi. Khi đó, tôi là chiến sĩ trinh sát thuộc Trung đội trinh sát của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 198, do đồng chí Lâm là Trung đội trưởng. Trận đánh này thắng lợi là do chúng tôi luyện tập kỹ, như cách đánh địch trong công sự, hầm ngầm; đánh bất ngờ không để địch kịp đối phó. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi được biên chế về Tiểu đội trinh sát của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 198. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi tham gia đánh thành công binh ngụy (thành Quan Năm), ngăn chặn địch chi viện đánh phá cầu Bông, cầu Sáng. Sau khi miền Nam giải phóng, chúng tôi làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất... ”, cựu chiến binh Dương Ngọc Bích cho biết.

Mỗi người một câu chuyện chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, như Trung tá Nguyễn Văn Nam, nguyên chiến sĩ Đại đội trinh sát của Trung đoàn 198, đã cắt nhiều lớp hàng rào của địch để trinh sát, chuẩn bị chiến trường đánh khu kho Mai Hắc Đế ở Buôn Ma Thuột. Đồng chí Nguyễn Trọng Sáu, nguyên Trung đội trưởng Trung đội 2, Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 198 kể về những kỷ niệm đánh sân bay Cù Hanh, căn cứ hậu cần-kỹ thuật của địch ở Pleiku nhằm nghi binh, tạo thuận lợi cho hướng chính của ta đánh vào Buôn Ma Thuột...

Ấn tượng nhất với tôi là những câu chuyện chiến đấu của Trung tá Nguyễn Khìn, nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Cựu chiến binh Nguyễn Khìn quê ở Cao Bằng, nhập ngũ năm 1966. “Tôi hành quân mất 3 tháng 20 ngày mới đến Trạm 9 giao liên ở Tây Nguyên. Trận đánh địch đầu tiên vào tháng 7-1967, khi đó tôi là chiến sĩ Trung đội 1, Đại đội 3, Tiểu đoàn trinh sát của B3. Trận này, chúng tôi chống địch càn quét phía Tây Bắc Kon Tum, xung quanh cao điểm Ngọc Linh. Sau đó, tôi tham gia các trận đánh địch trên địa bàn Tây Nguyên như: Đánh cắt Đường 14 khu vực Chư Thoi, Chư Pao; đánh địch ở quận lỵ Phú Nhơn, ở Ea H’Leo (năm 1971)...”, cựu chiến binh Nguyễn Khìn cho biết.

Tôi hỏi: “Trong Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3-1975), bác cùng đơn vị làm nhiệm vụ gì? Đánh địch ở hướng nào?”. Cựu chiến binh Nguyễn Khìn kể: “Khi thành lập Trung đoàn 198, tôi là Phó trưởng ban Tác chiến, được giao tìm vị trí đóng quân và tiếp nhận quân số bổ sung. Tôi tham mưu với lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn lấy luôn khu vực Chư Nghé làm thao trường huấn luyện. Đầu năm 1975, trên cương vị là Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 nên những cuộc họp bàn nhiệm vụ, kế hoạch tác chiến, bố trí lực lượng của Trung đoàn 198, tôi được tham dự và nắm khá rõ.

Chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Nguyên, phần lớn tiểu đoàn, đại đội của Trung đoàn cơ động xuống Đắk Lắk; tổ chức đắp sa bàn huấn luyện tác chiến; trinh sát trận địa. Tiểu đoàn 1 chúng tôi được giao nhiệm vụ tác chiến trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum, tham gia nghi binh lừa địch và bảo vệ cơ quan, cơ sở hậu cần Bộ tư lệnh B3. Những trận đánh vào kho tàng, cơ sở hậu cần-kỹ thuật và một số mục tiêu của địch ở phía Bắc Pleiku đã khiến chúng nhầm tưởng ta đánh lớn ở khu vực này, nhưng thực chất hướng chủ yếu của ta là ở Buôn Ma Thuột. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 198 trực thuộc Quân đoàn 3 mới thành lập và được Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 giao tổ chức lực lượng đánh địch, giải phóng Đà Lạt, Lâm Đồng.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ của Trung đoàn là đánh địch, chiếm giữ, bảo vệ các mục tiêu cầu Bông, cầu Sáng để các đơn vị Quân đoàn 3 tiến công vào Sài Gòn từ hướng Tây Bắc. Đơn vị tôi thần tốc hành quân từ Pleiku xuống, dù phải vượt qua quãng đường dài nhưng cán bộ, chiến sĩ đều phấn khởi. Tiểu đoàn 1 chúng tôi nhận nhiệm vụ đánh chiếm và chốt giữ cầu Bông, sau đó tổ chức một đại đội phối hợp với Tiểu đoàn 5 đánh chiếm, giữ thành Quan Năm. Tiểu đoàn 4 đánh chiếm, giữ cầu Sáng. Bằng sự phối hợp với đơn vị bạn và LLVT địa phương, chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao”.

DƯƠNG AN

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn