Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Hồi ức 81 ngày đêm "Hoa Lửa"

Hưng Yên21/11/2025Bùi Quốc Sủng3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trải qua 81 ngày đêm chiến đấu, chịu đựng hàng trăm ngàn tấn bom đạn các loại, nhưng với ý chí “bộ đội còn, Quảng Trị còn”, các chiến sĩ trên mặt trận Quảng Trị đã trở thành một tập thể anh hùng. Với tinh thần, nghị lực, ý chí chiến đấu dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị bộ đội của ta đã hoàn thành nhiệm vụ chiến lược được giao, làm thất bại ý đồ “tái chiếm Thành cổ” của Mỹ - Ngụy.

Trong tập thể anh hùng ngày đó, cựu chiến binh Bùi Quốc Sủng may mắn sống sót và trở thành nhân chứng lịch sử ngày hôm nay. Ông sinh năm 1954, hiện đang sinh sống tại Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Khi vừa tròn 18 tuổi, ông nhập ngũ và bắt đầu tham gia các trận chiến đấu từ tháng 2 năm 1972. Các trận đánh như: Động Chi, sân bay Tà Cơn, Ái Tử, La Vang cho vào bờ bắc sông Thạch Hãn, đặc biệt tham gia trận 81 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị từ 28/6/1972 -16/9/1972.

Cựu chiến binh Bùi Quốc Sủng: Khi đó tôi được giao nhiệm vụ là một pháo thủ, cụ thể là pháo thủ 14 ly 5 (pháo cao xạ 14.5mm). Khi có máy bay địch xuất hiện, chính tôi sẽ ra trận địa điều khiển khẩu pháo chiến đấu, còn các thành viên khác trong đơn vị chủ yếu ở phía ngoài làm nhiệm vụ hỗ trợ.

Ban đầu, loại pháo này thuộc lực lượng Phòng không – Không quân, chuyên dùng để bắn hạ máy bay tầm thấp. Tuy nhiên, khi vào chiến trường miền Nam, pháo 14,5mm được điều chỉnh để hỗ trợ bộ binh, bằng cách hạ thấp nòng ngắm nhằm bắn trực tiếp vào đội hình bộ binh địch trên mặt đất. Nhờ khả năng cơ động và hỏa lực mạnh, khẩu pháo này trở thành vũ khí hiệu quả trong cả phòng không lẫn hỗ trợ tác chiến mặt đất.

Tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ từ việc sinh hoạt, công tác chiến đấu hàng ngày và cả những hiểm nguy từ chiến trường. Đầu tiên phải kể đến việc đi bộ từ Nghệ An vào Quảng Trị, tôi cùng đoàn đi bộ 7 ngày 7 đêm từ Lệ Thuỷ (Quảng Bình) vào đến sân bay Tà Cơn (Quảng Trị). Hành trang vào tiền tuyến của một chàng thanh niên 18 tuổi với cân nặng chỉ khoảng 37kg, bao gồm: Võng, quần áo, 3kg lương khô, 2kg thịt hộp, 1 cái cuốc và 1 khẩu súng.

Ngày ấy đói, không có nhiều đồ ăn, mỗi tối trước khi đi đánh địch thì mỗi người chỉ được phát một chiếc lương khô. Khi đó, món “chè cháo lương khô” được làm từ nước sông Thạch Hãn khuấy với lương khô là món chống đói của chúng tôi.

Bên cạnh những bữa ăn lưng bụng, tôi và đồng đội phải gồng mình vác nòng pháo 50, 60 cân mặc dù ai cũng nhỏ con. Ngày nào cũng bê ra, bê vào điểm tập kết và hành quân đi đánh trận, trong khi đó, điểm tập kết cách vị trí mai phục địch 1km.

Thời tiết khắc nghiệt cũng là một sự khó khăn cản trở, chúng tôi vừa phải đi hành quân dưới cái nắng nóng gay gắt của đất Quảng Trị, vừa đối diện với hiểm nguy của ranh giới sinh tử. Mỗi ngày, ít nhất 10 lần B52 trút bom đánh xuống, thảm khốc tới mức lúc tôi đóng quân để chuẩn bị tiếp tục đi chiến đấu, B52 đánh bom chết tất cả dân chúng ở đó. Bộ binh ta lúc đó hy sinh cũng rất nhiều, đêm 120 người đi chiến đấu thì sáng mai trở về điểm tập kết cũng chỉ còn 20, 30 tay súng.

Từ đó đến nay đã hơn 50 năm, nhưng tôi không thể quên được một người đồng đội cùng tác chiến đã mãi mãi nằm lại dưới mảnh đất Thành cổ. Ngày đó, anh ấy có mời tôi ghé thăm hầm chiến, tôi từ chối và nói phải về hái rau dền ăn cơm. Sau đó, anh đùa với tôi, nhớ cho anh một bát canh rau dền. Thế nhưng, khi tôi quay lại, một quả bom nổ trên đầu đã làm người đồng đội của tôi ngã xuống và mãi mãi vùi sâu dưới lòng đất Quảng Trị. Cho đến giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn không khỏi bồi hồi và nuối tiếc vì một lời hẹn mãi không thể thực hiện.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn