Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

hồi ức b2 (1)

Năm 1954 tập kết ra Bắc, chúng tôi được tập trung về Tổng cục Chính trị. Quân đội chưa có ngành điện ảnh, nên lần lượt các anh em điện ảnh trong Nam ra, chuyển về Xưởng phim thuộc Bộ Văn hoá. Chỉ còn là một nhóm nhỏ gồm Vũ Ba, Phạm Tranh, Việt Hiền, Đoàn Tý và tôi ở lại quân đội công tác cho Bảo tàng quân đội, báo Hình ảnh quân đội và báo Quân đội nhân dân.

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
hời niên thiếu tôi đi học trường lang. Học sách giáo khoa tôi chỉ biết: Nước Việt Nam có hình cong như chữ "S", kéo dài tư "ải" Nam Quan đến mũi Cà Mau, (lược chia thành 3 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ va Nam Kỳ. Tôi lại được nghe bố mẹ kể rằng: ở làng tôi có một số người nhà nghèo, ham mê cờ bạc, khi mang công mắc nợ cùng đường phải ký "Côngtờra" với sở mộ phu đi Nam Kỳ. Chuyện đi Nam Kỳ làm phu cạo mủ cao su cho Tây ghê rợn lắm!... Rừng thiêng nước độc, lao dịch cực hình, đã đi thì khó trở về. Ông nội tôi là một trong số những người như vậy. Đến nay con cháu chỉ lấy ngày ông ra đi "mồng 8 tháng giêng" để cúng giỗ. Ấn tượng đầu tiên của tôi về xứ Nam Kỳ xa xưa là như vậy...


Sau cách mạng tháng tám 1945 ta không gọi là Nam Kỳ nữa. Chữ "Kỳ" được đổi thành chữ "Bộ" để phân biệt thời nô lệ mất nước với thời đã giành lại được độc lập tự do. (Tôi tự nghĩ như vậy). Ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi lúc này là ngày 23/9/1945, quân Pháp núp bóng quân Anh, Ấn trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với khí thế sục sôi, thanh niên tình nguyện Nam tiến để hợp lực cùng đồng bào chiến sĩ Nam Bộ chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Phong trào tình nguyện Nam tiến có tới hàng triệu con người; Không thể chia phần cho tất cả, nên cũng có kẻ ở người đi... Tôi là người không được may mắn như nhiều bạn khác nên phải ở lại. Chẳng bao lâu nữa, ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngay trên đất Thăng Long, Đông Đô, Ha Nội - Thủ đô của cả nước. Thế là tất cả mọi người đều xung trận...


Cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta, 9 năm sau giành được thắng lợi. Với Hiệp nghị Giơnevơ, tạm thời phân chia 2 miền, tập kết quân đội để chờ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Quân dân Miền Bắc được đón tiếp các cán bộ chiến sỹ Miền Nam tập kết ra Bắc. Từ lâu nghĩ về Miền Trung, Miền Nam của Tổ Quốc tôi chỉ hình dung trong cái vòng cong của hình chữ "S"; nay được tay bắt mặt mừng với những con người đại diện cho đồng bào chiến sĩ Miền Trung, Miền Nam ra tập kết, xúc động biết bao khiến tôi không cầm nổi nước mắt.


Khi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bội ước phá hoại hiệp nghị Giơnevơ, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam; Miền Bắc lại có phong trào Nam tiến lần thứ hai. Lần này tôi được vào tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên "B3". Tuy vậy tôi vẫn chưa được đến với đồng bào chiến sĩ Nam Bộ B2". Tôi ước mơ có dịp đi đến tận cùng đất nước để tận mắt nhìn thấy mũi Cà Mau, mảnh đất thiêng liêng mà mình đã từng ấp ủ trong tim từ thời niên thiếu... Bị thất bại thảm hại sau 20 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai buộc phải ký hiệp định Pari. Lúc này tôi được cấp trên giao nhiệm vụ dẫn đoàn cán bộ vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ - "B2". Mong ước của tôi đã được toại nguyện. Tôi cùng anh em hăm hở lên đường. Ước gì lúc này mình biến thành mũi tên để bay nhanh đến đích. Đang phấn chấn trong lòng bỗng nhiên có chuyện đột xuất: Mẹ tôi bất ngờ lâm bệnh nặng đang hôn mê bất tỉnh. Lòng tôi lại rối như tơ vò. Theo kế hoạch, ngày mai đã lên đường. Tôi phụ trách, nắm toàn bộ kế hoạch công tác của ngành trong giai đoạn mới và kế hoạch dẫn đưa đoàn cán bộ hành quân Nam tiến. Người thay thế tức thời lúc nay không dễ gì chuẩn bị kịp. Trước tình hình đó tổ chức cũng hơi khó xử. Tôi nói: Nhiệm vụ cách mạng dù hoàn cảnh nào cũng có thứ thách hy sinh. Lúc này Tổ quốc là trên hết! Tôi có thể tự thu xếp công việc gia đình để thực hiện đúng kế hoạch đã định. Tổ chức cũng thấy yên lòng với quyết tâm của tôi. Trước tình hình nước sôi lửa bỏng của đất nước, anh em chúng tôi ngồi trao đối tâm tình với nhau bên giường mẹ đang hấp hối. Tất cả đều nhất trí động viên tôi lên đường và hứa hẹn: Việc chăm lo cho mẹ ở nhà chúng em xin gánh vác chu toàn. Mong anh yên tâm lên đường thuận buồm xuôi gió. Tôi chào mẹ lần cuối cùng: Mẹ! Con vì nghĩa nặng tình sâu với dân với nước, đặc biệt với đồng bào Miền Nam nên phải xa mẹ vào lúc này. Mong mẹ hiểu và tha thứ cho con. Mẹ không nói được nữa, nhưng nước mắt của mẹ cứ trào ra. Anh em chúng tôi mọi người đều khóc hòa chung vào dòng nước mắt của mẹ. Thế là tôi đã vượt qua được một thử thách đau lòng để lên đường. Sau nay nhận được điện báo tin: Mẹ đã qua đời sau khi tôi ra đi được một tuần...


Trải qua gần 3 tháng hành quân bộ, từ Đông Trường Sơn vượt qua Tây Trường Sơn, rồi từ Tây Trường Sơn lại trở về Đông Trường Sơn. Cuối cùng cả đoàn đã vào tới đích. Đặt chân lên đất Nam Bộ "B2", tôi thấy nhiều điều mới lạ. Từ cảnh vật đến con người, sao nó cứ vời vợi, buâng khuâng... Tôi nhớ đến lời Bác Hồ: "Miền Nam đi trước về sau" - "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi"... Bác Hồ với Miền Nam cũng như cả nước với Miền Nam... Sông có thể cạn, đá có thể mòn... Song không một sức mạnh nào có thể ngăn cách được mối tình ruột thịt Bắc Nam...


Đi sâu vào đất Lộc Ninh, trước mắt bỗng xuất hiện một rừng cây... Anh em reo lên: Ôi! Rừng cao su đây rồi... Những hàng cây thẳng tắp, giữa mùa khô lá rụng cành trơ. Những dải đất bazan đỏ ngầu phủ kín cỏ cây ven đường giống như một lớp sơn màu gạch. Mắc võng nằm nghỉ dưới gốc cây cao su, tôi chợt nhớ tới lời bố mẹ nói ngày nào, mà hình dung thấy sự lam lũ vất vả thời xa xưa của những người phu cạo mủ. Nghĩ đến ông nội, tôi bùi ngùi thương cảm: Ông ơi! Người ta đã vùi lấp ông ở gốc cây nào? Để cháu tìm đến với ông cho đỡ cô quạnh! Thầm nghĩ trong óc mà nước mắt cứ tuôn trào...


Buổi ra mắt đầu tiên với các đồng chí đồng đội ở Nam Bộ "B2" anh phụ trách buổi tiếp đón hỏi tôi: Anh Tiên là thứ mấy trong gia đình? - Tôi thưa: Nếu chỉ tính con trai thì tôi là trưởng, dưới tôi còn bốn chú em nữa. Tính cả con gái thì trên tôi còn hai người chị.


Anh phụ trách nói: Theo cách tính của Nam Bộ thì anh có chị Hai, chị Ba... Còn anh là thứ Tư. Nam Bộ không có "trưởng" hay "cả" và không phân biệt trai hay gái, ngươi con đầu là thứ hai... Xin được giới thiệu anh là anh "Tư". Đây là thủ tục nhập tịch của tôi khi tới chiến trường Nam Bộ "B2" và từ đó tôi được anh em đồng chí đồng đội gọi là anh "Tư" đôi khi để tránh sự trùng lắp thứ tự với các anh em khác cũng là thứ "Tư" thì anh em dùng cả "thứ" và "tên" gọi tôi là anh Tư Tiên". Được mang cái tên anh "Tư" hay "Tư Tiên" tôi cảm thấy mình gắn bó với Nam Bộ "B2" như anh em trong nhà. Tôi tự thấy yêu mình hơn. Từ đó, mỗi khi viết văn, viết báo, tôi cũng lấy bút. danh là "Tư Tiên" để giữ lấy kỷ niệm chiến trường thấm đậm tình thương nhớ.


Những ngày công tác ở chiến trường Nam Bộ "B2", khi thâm nhập vào các xóm, ấp, ăn ở trong nhân dân, hoặc khi xuống các đơn vị chung sống cùng đồng chí đồng đội, trong giao tiếp ứng xứ nghe những tiếng xưng hô: Cụ Hai, ông Hai, bà Hai, bác Hai, dì Hai, cô Hai, cậu Hai, anh Hai, chú Hai, cô Út, cậu Út v.v... thật là đầm ấm như con một mẹ, anh em một nhà, chung sống với nhau thuận hòa, ưu ái, chia ngọt xẻ bùi, sống chết bên nhau... Tôi rất ngưỡng mộ cái cách thức biểu hiện tình cảm của đồng bào, đồng chí Nam Bộ "B2"... Sao nó hiền hoà, gợi thương, gợi nhớ đến thế... Khi nóng nó có thể đem lại luồng gió mát cho con người, khi lạnh nó lại sưởi ấm lòng người, khiến người ta có thể dễ quên đi nỗi buồn phiền, để tâm hồn mình nhanh chóng trở lại trạng thái bình yên thanh thản... Người ta dễ xua tan đi nỗi tức giận trong lòng để đến với nhau bằng tình vị tha độ lượng, như cây cao bóng cả che mát cho đời.


Biết ơn tổ tiên ông cha ta, đã mang dòng huyết thống của cha Lạc Long Quân với mẹ Âu Cơ, sinh con cùng một bọc, chia nhau xuống biển, lên non để xây dựng nên cơ đồ đất Việt có hình cong như chữ "S"; biết ơn tư tưởng Đại đoàn kết của Bác Hồ kính yêu, để lớp lớp cháu con ngày nay có được nếp sống "đẹp" tuyệt trần: Kết hợp hài hòa giữa cá nhân với cộng đồng, trong cái "nôi" của mẹ bọc trăm con. Không thấy có sự phân chia cách biệt thái quá nào giữa những người con với gia đình, giữa họ hàng với làng nước. Đó là bản sắc độc đáo của văn hoá dân tộc Việt Nam cần được bảo tồn và phát huy, để tôn cao hơn nữa lòng tự hào dân tộc của ngươi Việt Nam trước nhân loại.

Tháng 11/1998
T.T

Logged

dungnuocgiunuoc

Thành viên
*
Bài viết: 634


Hồi ức B2« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2022, 04:13:55 pm »
CHÚNG TÔI VÀO B2

NGÔ THẾ KỶ

Một buổi sáng đầu tháng 5-1966, tôi được anh Hoàng Minh Thi, Cục trưởng Cục Tuyên huấn mời lên gặp. Anh cho tôi biết tôi được cử đi B, vào B2, tức là vào Cục Chính trị Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, hiện đang ở Miền đông Nam Bộ. Tôi làm Trưởng một đoàn gồm 6 phóng viên báo chí, thông tấn. Chúng tôi vào B để đáp ứng yêu cầu của chiến trường đang và sẽ còn phát triển.


Anh Thi hỏi tôi có gì khó khăn không? Tôi trả lời: Tôi đi được, không có gì khó khăn. Anh bảo tôi cứ chuẩn bị đi bộ, vượt Trường Sơn, nhưng anh sẽ xin cho tôi đi theo anh Nguyễn Chí Thanh, đã vào B2 mấy năm nay, hiện đang ở ngoài này và lại sắp vào trong ấy. Nhưng ý định này không thành.


Nhận nhiệm vụ mới, tôi rất xúc động. Thế là tôi sắp xa Phòng biên tập phát thành quân đội nhân dân, nơi tôi công tác 7 năm nay.

Tất nhiên xúc cảm sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn là tôi sắp xa vợ tôi và các con tôi. Vợ tôi công tác ở Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng tham mưu. Mới hơn 30 tuổi nhưng sức yếu. Chúng tôi có 2 con trai, đứa lớn lên 9, đứa bé lên 5. Vì chiến tranh phá hoại, các cháu phái sơ tán khỏi Hà Nội, được trại trẻ của Tổng cục Chính trị chăm sóc.


Có lần vợ tôi hỏi: bao lâu nữa thì gia đình lại được đoàn tụ? Điều này tôi cũng đã tự hỏi và tìm cách trả lời. Tôi nói Mỹ chưa từng tham gia một cuộc chiến tranh nào quá 3 năm. Anh hy vọng, sau 3 năm chúng ta lại sống bên nhau. Sự thực là sau tròn 10 năm, tôi mới trở về.


Cuối tháng5/1966, tôi vào Sư đoàn 338 ở Thanh Hóa để luyện tập chuẩn bị vượt Trường Sơn. Anh em chúng tôi vào B2 cũng đã đủ mặt: Nguyễn Duy Khải, Đỗ Công Viện, Lê Minh, Mai Bá Thiện (phóng viên nhiếp ảnh), Nguyễn Văn Năng, Nghiêm Hà (phóng viên nhiếp ảnh) và đồng chí Trạch, quân y sĩ.


Hàng ngày chúng tôi đeo ba lô, tập hành quân. Ba lô mỗi ngày thêm trọng lượng và hành trình ngày một thêm dài.

Trung tuần tháng 7, Tổng cục Chính trị cho xe đưa chúng tôi lên đường. Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Tổng cục Chính trị, của Cục trưởng Tuyên huấn Hoàng Minh Thi cũng như tất cả các xe khác ở thời kỳ ấy, xe chúng tôi đêm đi ngày nghỉ. Ban đêm xe phải dùng đèn gầm, chỉ chiếu lờ mờ một đoạn đường ngắn. Đêm nào cũng vậy, khắp trời vang tiếng máy bay, tiếng bom, tiếng súng phòng không, đồng chí Quyên lái xe của chúng tôi thật là giỏi. Nhiều đoạn xe đi trên miệng hố bom. Ban ngày tuy xe là mục tiêu của máy bay địch nhưng dân khu Bốn vui lòng dành nhà mình cho chúng tôi vào nghỉ.


Thế rồi các trọng điểm, mấy nơi còn được gọi là cửa tử, chúng tối cũng lần lượt vượt qua: phà Ghép, phá Bến Thủy, đèo Ngang, phà Ròn, phà Gianh, phà Quán Hầu, phà Long nại...

Đến miền Tây Vĩnh Linh thì xe quay ra và chúng tôi bắt đầu vượt Trường Sơn bằng đôi chân của minh.

Đêm đầu tiên ở đường Trường Sơn là một đêm đầy ấn tượng. Chúng tôi được đưa đến một khu rừng rậm để ăn ngủ ở đấy. Theo ngôn ngữ của đường Trường Sơn thì đây là "bãi khách". Trời mưa rả rích và tối như mực. Chúng tôi khoác ni-lông, bấm đèn pin, dùng dao găm để chặt cây và dây rừng dọn chỗ mắc võng, che ni-lông làm chỗ ngú. Loay hoay cả tiẽng đồng hồ mới dọn xong cái ổ của mình, chúng tôi chuyển sang nấu cơm ăn bữa đêm nay và nấm cơm cho cả ngày mai. Trời mưa nặng hạt hơn. Chúng tôi mò mẫm kê bếp, kiếm củi, mở đường xuống suối tìm chỗ vo gạo lấy nước rồi thổi cơm. Bếp ướt, củi ướt. Cái gì có thể dùng để nhóm lửa được đều được mang ra sử dụng: sách vở, quai dép cao su dự trữ... Cuối cùng rồi cũng có cơm ăn, tuy sống nhăn sống nhở.


Đi được hai ngay thì đồng chí Năng ngã trẹo chân phải ở lại chạy chữa rồi đi sau. Một tuần sau, y sĩ Trạch chảy máu dạ dày phải quay ra Bắc. Rất may là cùng đi với đoàn chúng tôi, có một tổ cán bộ vào công tác trong Bộ Chỉ huy Miền, trong đó tôi có một người bạn bác sĩ Bùi Tiến Đông. Anh đã tận tình chăm sóc sức khoẻ cho đoàn chúng tôi suốt cuộc hành trình.


Những ngày vượt Trường Sơn là những ngày liên tục băng đèo, trèo núi, lội suôi, vượt sông. Có chặng suốt một ngày chỉ qua được một con đèo. Chúng tôi đi trong mùa mưa nên suốt ngày ướt, đường lầy lội. Tội nghiệp Nghiêm Hạ. Có hôm anh trượt chân ngã, một chiếc dép văng xuống vực. Anh phải leo dốc đá tai mèo một chân đi dép, một chân trần. May buổi tối đến chặng nghỉ, anh được trạm cho một chiếcc dép.


Trước mắt chúng tôi, khó khăn còn nhiều: dọc đường nhiều muỗi, nhiều vắt. Mỗi người chúng tôi phải chuẩn bị một bọc muối để gỡ vắt cho nhanh, như những người thợ cấy có bọc vôi để gỡ đỉa. Có một số nơi còn có ruồi vàng đốt đau như kim tiêm, vết đốt trở thành mụn nhọt. Mỗi ngày mỗi người chúng tôi được ăn 7 lạng gạo. Suốt cuộc hành trình không hôm nào thiếu gạo. Nhưng thức ăn chỉ có nước mắm cô đặc, ruốc thịt nhưng thịt ít mà muối thì nhiều. Dọc đường cố kiếm thêm một ít măng hoặc rau tàu bay.


Một niềm vui không nhỏ đối với chúng tôi là, vì đoàn chúng tôi là một đoàn nhỏ nên ở nhiều chặng, chúng tôi được vào nghỉ ở trong trạm. Ngoài trời mưa tầm tã, chỗ nghỉ của chúng tôi thật là một thiên đường. Chúng tôi có chỗ ngủ khô ráo, hoặc năm võng, hoặc có giường, tuy giát giường chỉ là những cành cây nhỏ ghép lại, hay là những thân tre, vầu, nứa tãi ra. Chúng tôi có bếp đun nấu khô ráo, nhiều trạm cho chúng tôi củi, có nơi còn cho chúng tôi cả rau và thịt thú rừng săn bắn hoặc bẫy được. Chúng tôi rất cảm động trước tình đồng chí, đồng đội.


Một niềm vui nữa là khi gặp dân ở ven đường, chúng tôi thường được báo trước về những dịp này bằng tiếng hót hoặc bóng dáng của những con chim cu gáy, loại chim thường sống gần các nương rẫy. Gặp dân, chúng tôi cảm thấy mình lại được hoà vào xã hội, vào cộng đồng. Và một niềm vui thực tế hơn là chúng tôi có thể dùng một số thứ đã chuẩn bị sẵn theo kinh nghiệm của những người đi trước, như cặp tóc, đá lửa, quần áo v.v... để đổi cho dân lấy con gà, con vịt, nải chuối, quả dưa... Đây thực sự là bữa tiệc của chúng tôi trên dẫy Trường Sơn. Nhưng đây cũng là dịp hiếm hoi, vì để giữ bí mật, đường đi thường tránh xa những nơi có dân cư sinh sõng.


Thật không may, vừa đến địa phân khu VI thì tôi bị ốm. Sau nay tôi mới được biết là anh em lo tôi chết, vì có lúc tôi đã bị hôn mê và tay đã "bắt chuồn chuồn". Anh em đưa tôi vào một bệnh xá. Đoàn đẻ anh Lê Minh ở lại chăm sóc tôi, còn anh em tiếp tục cuộc hành quân. Tôi rất cảm động trước sự chu đáo của anh em. Mặt khác tôi rất lo vì nghe mong manh đây là vùng đất khó khăn nhất của đường Trường Sơn. Lương thực, thực phẩm, thuốc men từ miền Bắc vào thì đến đây đã gần hết, mà từ Nam Bộ đưa ra đến đây cũng không còn mấy. Nhưng tôi lại gặp khá nhiều bất ngờ. Đầu tiên là việc các anh bố trí cho tôi ở cùng với Ban chỉ huy bệnh xá. Từ ít lâu nay ở đây đã quan hệ được với Cam-pu-chia nên lương thực, thực phẩm, thuốc men đủ dùng. Thuốc lá thơm cũng không thiếu. Ở đây, lần đầu tiên tôi được ăn chè nấu bằng sữa hộp và chuối tây. Nhân viên trong bệnh xá nhiều anh chị là người dân tộc. Có mấy anh săn bắn rất giỏi nên chúng tôi thường xuyên được ăn thịt thú rừng. Khoảng sau mười hôm thì tôi ra viện và cùng anh Lê Minh tiếp tục lên đường vào Miền.


Cuộc sống Trường Sơn thật là hào hùng và có biết bao điều cao cả. Nhưng ở đây cũng không tránh khỏi những chuyện đau thương.

Chúng tôi đi trên những cây số cuối cùng của đường Trường Sơn và một ấn tượng không bao giờ quên: những nấm mộ của các đồng chí vì bom đạn giặc, vì bệnh tật mà nằm lại vĩnh viễn trên dải Trường Sơn.


Trước đây tôi đã từng nghĩ, nếu đi B thì thích nhất được vào Nam Bộ. Ở đây có "miền Đông gian lao và anh dũng", có thành phố Sài Gòn, có sông Tiền, sông Hậu cùng cả vùng châu thổ mênh mông, có những người dân với những tính cách đáng quý.


Thế là tôi bây giờ đã được toại nguyện. Sau khoảng 3 tháng đi đường, trung tuần tháng 10/1966, chúng tôi đã đặt chân lên đất miền Đông Nam Bộ.

Chúng tôi đã đến trạm liên lạc của Cục Chính trị Miền. Nghe có nhiều tiếng bom tiếng pháo cách đây không xa. Hỏi ra được biết địch đang mở cuộc hành quân At-tơn-bô-rơ. Tuy vậy không khí ở đây rất bình thản.


Khi viết những dòng này, tôi hình dung lại từng khuôn mặt của sáu người bạn cùng vào B2 với tôi cách đây hơn 30 năm: Nguyễn Văn Năng, phóng viên nhiếp ảnh đã hy sinh ngoài mặt trận khi đang làm nhiệm vụ. Nghiêm Hà, phóng viên nhiếp ảnh mà giặc cướp mất của anh nửa bàn tay trong Mậu Thân 1968. Nguyễn Duy Khải thì vợ chồng phải chia tay nhau vì vợ không giữ được lòng chung thuỷ trong những năm xa cách. Mai Bá Thiện, phóng viên báo Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam qua đời năm 1996 vì căn bệnh hiểm nghèo. Căn bệnh này có liên quan gì đến chất độc hoá học mà quân thù thả xuống những vùng anh đã đi qua? Đỗ Công Viện, sau giải phóng miền Nam về công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương, nay đã nghỉ hưu. Còn Lê Minh, con ngươi "trên từng cây số" chí cốt với tôi, thì ngay sau ngày đất nước thống nhất đã trở về với người bạn đời rất đỗi thân thương ở quê hương Thanh Hoá, theo lời hẹn trước lúc lên đường.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
hồi ức b2 (1) | Câu chuyện thời hoa lửa