Hồi ức bà tôi - Cao Muôn
Bà tôi quê TDP Đá Bàn xã Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi, ngoại sinh ra trong một gia đình đông anh chị em. Từ nhỏ không được học hành nhưng bà tôi đã thấm tư tưởng theo chủ tịch Hồ Chí Minh về lòng yêu nước về nhân dân. Là một người thanh niên dũng cảm mang trong mình, bà ngoại tôi đã quyết định tham gia về bộ phận nuôi quân (hậu cần) cho bộ đội khởi nghĩa Ba Tơ tại núi Cao Muôn nay thuộc xã Ba Vinh tỉnh Quảng Ngãi.
“Cao Muôn hiểm trở muôn phần
Nuôi quân thầm lặng người hùng muôn phương
Ngoại tôi chẳng ngại giang sương
Một đời vì nước rạng ngời xuân xanh”
Đây là bốn câu thơ tôi tự viết để gợi nhớ một người phụ nữ phi thường nhưng bình dị, trong lòng đầy khát vọng yêu nước đó là ngoại tôi. Ngoại tôi là hình tượng tiêu biểu sâu sắc trong lòng tôi. Trong những năm tháng chiến tranh, chìm trong khói lửa, bà đã âm thầm tham gia nuôi quân. Đặc biệt có những đóng góp trong thời kỳ khởi nghĩa Ba Tơ 11/3/1945. Dù bà tôi không phải là người trực tiếp cầm súng ra chiến trường nhưng sự đóng góp hy sinh thầm lặng của bà vẫn là một phần đáng trân trọng trong câu chuyện lịch sử của bà với con cháu thế hệ sau này.
Câu chuyện về ngoại tôi, tôi được biết đến qua lời kể lại của bà, các ông, các bác và cả mẹ của tôi. Khi nghe tôi cảm thấy vô cùng yêu quý và trân trọng về người bà của tôi đã dành cho các Bộ đội. Chính vì điều này tôi càng muốn tìm hiểu nhiều hơn về câu chuyện những người anh hùng thầm lặng. Khi tôi tìm hiểu về những câu chuyện này lòng tôi cảm thấy vô cùng tự hào và biết ơn về người bà của tôi. Bà ngoại tên khai sinh là Phạm Thị Ngun bà không biết mình sinh năm nào nhưng khi biết nhận thức bà đã biết đất nước trong hoàn cảnh bị giặc Mỹ tàn phá như nào và khát khao mãnh liệt lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước không chịu làm nô lệ”.
Bà tôi quê TDP Đá Bàn xã Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi, ngoại sinh ra trong một gia đình đông anh chị em. Từ nhỏ không được học hành nhưng bà tôi đã thấm tư tưởng theo chủ tịch Hồ Chí Minh về lòng yêu nước về nhân dân. Là một người thanh niên dũng cảm mang trong mình, bà ngoại tôi đã quyết định tham gia về bộ phận nuôi quân (hậu cần) cho bộ đội khởi nghĩa Ba Tơ tại núi Cao Muôn nay thuộc xã Ba Vinh tỉnh Quảng Ngãi.
Nhắc tới các ngọn núi ở Ba Tơ chắc hẳn ai cũng nói núi Cao Muôn. Núi Cao Muôn có dòng thác hoang sơ đổ xuống từ đỉnh núi, len lỏi giữa những khu rừng nguyên sinh và các vách đá rêu phong cổ kính. Nơi đây được ví như "viên ngọc thô" dành cho những ai mê trekking. Săn mây đón bình minh: Đỉnh núi Cao Muôn hiện là địa điểm cắm trại lý tưởng nhờ tầm nhìn biển mây bạt ngàn tuyệt đẹp vào buổi sáng sớm.
Núi Cao Muôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử Khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945), được mệnh danh là "nơi khởi nguồn cách mạng" và là chiến khu căn cứ địa đầu tiên của Đội du kích Ba Tơ anh hùng. Mối liên kết chặt chẽ giữa núi Cao Muôn và cuộc khởi nghĩa lịch sử này được thể hiện qua các cột mốc chính sau: Là 1 Nơi rút quân và lập căn cứ chiến đấu đầu tiênNgay sau khi cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ nổ ra thắng lợi vào tối ngày 11/3/1945, chính quyền cách mạng tại châu lỵ được thành lập, đồng thời Đội du kích cứu quốc Ba Tơ (Đội du kích Ba Tơ) chính thức ra đời. Để bảo toàn và phát triển lực lượng trước sự phản công của kẻ thù, ban chỉ huy đã quyết định rút toàn bộ quân lên núi Cao Muôn để lập chiến khu căn cứ bí mật.
Qua lời bà kể, bà tôi được chia làm chi nuôi cho hơn hai mươi bộ đội trẻ tại Núi Cao Muôn. Trong tổ nuôi lúc ấy có hai người, gồm bà ngoại tôi và một người bác khác. Công việc của họ tuy âm thầm nhưng vô cùng quan trọng, bởi phải lo từng bữa cơm, từng hạt gạo cho những người đang hoạt động cách mạng. Mọi việc đều phải hết sức cẩn thận, chỉ dám hoạt động vào ban đêm để tránh bị phát hiện.
Hằng ngày, bà và người bác cùng nhau nấu cơm bằng bếp Hoàng Cầm. Vì hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt, họ chỉ dám nấu vào buổi tối và lúc rạng sáng khi trời còn tối. Mỗi lần nấu, chỉ có khoảng 15 lon gạo cùng 10 lon bắp được trộn lẫn với nhau rồi chia cho hơn hai mươi người, có những lúc gần ba mươi người cùng ăn. Bữa cơm tuy đơn sơ, thiếu thốn nhưng chứa đựng biết bao công sức và sự hy sinh của những người làm công việc nuôi quân. Điều khó khăn nhất là gạo không phải lúc nào cũng có sẵn. Muốn có gạo, bà và mọi người phải đi bộ từ Núi Cao Muôn xuống tận Hành Tín, Nghĩa Hành để lấy gạo rồi lại mang lên núi. Đường đi xa, hiểm trở, lại phải di chuyển trong đêm tối nên mỗi chuyến đi đều rất vất vả. Mọi người chỉ dám cõng gạo vào ban đêm, mò mẫm từng bước trên đường. Có những lúc đi suốt đêm, đến khi trời gần sáng mới tìm được chỗ để nghỉ. Trên đường đi, ai cũng phải luôn cảnh giác, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể gây nguy hiểm cho cả đoàn. Mỗi người thường phải cõng từ ba đến năm thùng gạo, tương đương khoảng 23 đến 38 kg, có khi còn nặng hơn. Đối với những người phụ nữ trong hoàn cảnh ấy, đó là một sức nặng không hề nhỏ. Thế nhưng vì nghĩ đến những người lính đang chiến đấu và vì lòng yêu nước, bà cùng mọi người vẫn cố gắng vượt qua. Không ai dám than vãn hay bỏ cuộc. Hạt gạo lúc ấy không chỉ là lương thực mà còn là sự tiếp sức, là niềm tin gửi đến những người đang ngày đêm chiến đấu vì quê hương. Những chuyến đi thường bắt đầu khi trời đã tối. Đi trong đêm, mọi người phải hết sức im lặng, không dám bật đèn, cũng không dám nghỉ ngơi tùy ý. Khi trời bắt đầu sáng, nếu chưa thể trở về nơi an toàn, mọi người phải tìm những hốc cây, hốc đá hoặc những nơi kín đáo để tạm ẩn nấp. Có những buổi sáng, máy bay bay trên đầu khiến ai cũng lo sợ. Tiếng máy bay giữa núi rừng khiến mọi người căng thẳng, nhưng không vì thế mà bà và những người cùng làm công tác nuôi quân chùn bước. Họ chỉ biết tìm chỗ trú, chờ đến khi an toàn rồi lại tiếp tục công việc của mình.
Bà kể rằng lúc ấy ai cũng sợ, bởi chiến tranh là điều không ai có thể xem nhẹ. Nhưng nếu vì sợ hãi mà dừng lại thì những người lính trên núi sẽ không có cơm ăn, không có lương thực để tiếp tục chiến đấu. Chính suy nghĩ ấy đã giúp bà và những người làm công tác nuôi quân có thêm nghị lực. Họ âm thầm chịu đựng gian khổ, vượt qua những con đường núi hiểm trở, mang từng thùng gạo lên cho bộ đội. Nhìn lại những gì bà đã trải qua, tôi càng hiểu rằng trong chiến tranh, không chỉ những người trực tiếp cầm súng mới là những người góp sức cho cách mạng. Những người làm công tác hậu cần, những người nấu cơm, vận chuyển lương thực và âm thầm che chở cho bộ đội cũng đã đóng góp một phần rất quan trọng. Công việc của bà không có tiếng súng, không có những chiến công được ghi lại rõ ràng, nhưng đó là những tháng ngày đầy mồ hôi, lo sợ và hy sinh.
Có lẽ chính từ những hạt gạo được cõng vượt núi, những bữa cơm ít ỏi được chia đều cho hàng chục người mà những người lính có thêm sức mạnh để tiếp tục con đường của mình. Mỗi lần nghe bà kể, tôi lại hình dung ra hình ảnh một người phụ nữ nhỏ bé giữa núi rừng Cao Muôn, lặng lẽ gánh trên vai những thùng gạo nặng trĩu và cả trách nhiệm đối với những người đang chiến đấu. Bà và những người cùng làm công tác nuôi quân đã vượt qua biết bao gian nan chỉ với một mong muốn giản dị: có thể góp một phần sức lực nhỏ bé của mình để nuôi quân, nuôi bộ đội, góp sức cho quê hương.
Những câu chuyện ấy đối với tôi không chỉ là những ký ức của bà mà còn là một phần lịch sử của gia đình và quê hương. Qua lời kể của bà, tôi càng thêm trân trọng sự hy sinh thầm lặng của thế hệ đi trước và càng tự hào về người bà của mình một người phụ nữ bình dị nhưng đã góp phần nhỏ bé vào những năm tháng lịch sử đầy gian khổ của quê hương.
Núi Cao Muôn là biểu tượng của tinh thần quật khởi của quân và dân Ba Tơ.Căn cứ địa: Sau cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ oai hùng (tháng 3/1945), Đội du kích Ba Tơ đã tiến về ngọn núi này để lập căn cứ, tổ chức huấn luyện quân sự đêm ngày.
Qua câu chuyện của bà, em càng trân trọng lòng yêu nước, sự hy sinh của thế hệ cha anh và tình đồng chí, tình người trong chiến tranh. Hòa bình hôm nay là thành quả của biết bao mất mát, vì vậy thế hệ trẻ cần biết ơn, sống có trách nhiệm, cố gắng học tập và cống hiến để tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông.
Câu chuyện của bà ngoại tôi tuy nhỏ bé nhưng đã để lại cho tôi một dư âm sâu sắc, tôi càng yêu mến biết ơn công lao của bà. Nếu bà không chọn thăm gia chi nuôi liệu rằng hôm nay tôi sẽ có một người bà vĩ đại này không. Tui bà chỉ là một người thầm lặng trong tất cả những anh hùng có công cho đất nước. Nhưng đối với tôi bà là một hình tượng vĩ đại trong lòng các con cháu như tôi. Thế hệ chúng ta thế hệ học sinh ngày nay cần cố gắng học tập, rèn luyện tư tưởng tấm lòng yêu nước và sự quyết tâm to lớn. Luôn có ý thức được trách nhiệm của mình về việc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Cố gắng học tập tu dưỡng đạo đức không phụ sự mong mỏi như lời vị chủ tịch Hồ Chí Minh “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không là nhờ một phần công học tập to lớn của các em”.


