Hồi ức bi tráng và đầy tự hào của cựu chiến binh Lê Xuân Trọng
Hồi ức bi tráng và đầy tự hào củacựu chiến binh Lê Xuân Trọng (sinh năm 1943, quê Tuyên Quang). Ông đã cống hiến trọn tuổi thanh xuân của mình qua ba chiến trường vô cùng ác liệt: Lào, Việt Nam (Tây Nguyên) và Campuchia, với mười mấy năm liên tục hành quân không có một ngày nghỉ ngơi.
1. Bàn thờ lập lúc còn sống và nỗi đau mang tên chất độc da cam:
- Ông Trọng nhập ngũ vào khoảng năm 1966 và được điều động sang chiến trường chiến đấu. Vì đi biền biệt nhiều năm không có tin tức, lại bị đài tâm lý chiến của địch loan tin giả, bố của ông ở nhà đã tưởng con trai hy sinh nên lập một bàn thờ và đặt ảnh ông lên để thờ. Đến ngày ông may mắn sống sót trở về, nước da đen sạm đến mức đứa em út không nhận ra người nhà mà chỉ dám chào "chú bộ đội".
- Tuy sống sót qua bom đạn, ông và gia đình lại gánh chịu nỗi đau dai dẳng của chất độc hóa học (dioxin) do máy bay Mỹ rải thảm xuống dọc dãy Trường Sơn. Trong số 7 anh chị em, có 2 người đã mất vì di chứng nhiễm chất độc. Bản thân ông hiện nay mang nhiều bệnh tật và đang hưởng chế độ nhiễm chất độc hóa học với tỷ lệ hơn 70%.
2. Mặt trận Nam Lào và 4 ngày đêm tử thủ tại Cao điểm 660:
- Trong những năm đầu quân ngũ, đơn vị ông (thuộc Tiểu đoàn 1) nhận nhiệm vụ bảo vệ Bộ Tư lệnh 559, chiến đấu liên miên dọc tuyến từ Khe Sanh, Lao Bảo, A Lưới sang đến Xê Pôn, Mường Phìn, Đồng Hến (Lào). Nơi đây đạn bom ác liệt đến mức những người lính hy sinh chỉ được quấn vội bằng tấm tăng rồi chôn ngay trên đồi.
- Ký ức khốc liệt nhất của ông tại Lào là trận đánh ngày 12/2/1971 tại Cao điểm 660 (thuộc chiến dịch Đường 9 - Nam Lào). Đại đội của ông lên chi viện nhưng bị địch đánh bật lại, thương vong nhiều không đếm xuể. Hào chiến đấu đào vội nên rất nông, bộ đội ta hy sinh nằm dưới bùn đất, những người lính còn sống phải đạp lên xác đồng đội của chính mình để tiếp tục chiến đấu. Cả đơn vị gần như hy sinh hết, chỉ còn lại ông và một đồng chí tên Hoàng (quê Ninh Bình) chia nhau bám trụ tại hai cửa hang đá. Họ nhịn đói khát, kiên cường cầm cự suốt 4 ngày 4 đêm cho tới khi lực lượng chi viện tới cứu.
3. Chiến đấu ở Tây Nguyên và đòn thù thâm độc của địch:
- Khi vào chiến trường Tây Nguyên, ông trực tiếp chỉ huy đơn vị cắt đường 14 và tiến đánh thị xã Kon Tum. Đối mặt với quân thù, những người lính phải vô cùng cẩn trọng trước những âm mưu tàn ác. Ông nhớ mãi hình ảnh một bà lão mặc thường phục cầm gáo dừa nói là "nước dừa mời bộ đội giải phóng", nhưng thực chất bên trong chứa toàn axit. Bà ta hất thẳng gáo axit vào đồng chí Tú (quê Hải Phòng) khiến anh bị cháy rộp cả quần áo lẫn da thịt.
- Vượt qua muôn vàn hiểm nguy, ông tiếp tục hành quân tiến xuống đèo Phượng Hoàng, giải phóng Nha Trang rồi quay ngược về Buôn Ma Thuột để truy quét lực lượng tàn quân FULRO.
4. Campuchia và cuộc chiến chống lại sự dã man của tàn quân Pol Pot:
- Năm 1978, ông tiếp tục nhận lệnh sang chiến đấu tại chiến trường Campuchia. Ở đây, gian khổ nhân lên gấp bội khi bộ đội không chỉ đối phó với địch mà còn chịu cảnh chết đói, chết khát, rắn cắn và sốt rét ác tính giữa rừng sâu.
- Điều khiến ông xót xa, căm phẫn nhất là sự tàn bạo của quân Pol Pot. Có lần, vào dịp sát Tết, tàn quân Khmer Đỏ phục kích và đánh úp đồn 7, đồn 8 của ta. Chúng tàn ác đến mức giết và cắt đầu toàn bộ những người lính Việt Nam đã ngã xuống. Hậu quả là tại nghĩa trang Đức Cơ ngày nay, có tới 700 liệt sĩ phải nằm lại dưới những ngôi mộ vô danh vì thi thể không còn nguyên vẹn để nhận dạng. Trong trận phản kích lấy lại đồn, bất chấp những ý kiến rụt rè "không được bắn bạn", ông đã dũng cảm chịu kỷ luật, ra lệnh nã thẳng cối và B41 vào đội hình địch, khiến chúng khiếp sợ bỏ chạy.
5. Đi dân công Vị Xuyên và tấm lòng đau đáu với đồng đội:
- Khoảng năm 1983 - 1984, ông được ra quân về Bắc, nhưng chưa kịp nghỉ ngơi thì đến năm 1986, ông lại tiếp tục làm Tiểu đoàn trưởng chỉ huy 710 dân công huyện Yên Sơn lên mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) để đào hầm, vác đạn chi viện cho mặt trận biên giới phía Bắc khốc liệt.
- Dù đã ở tuổi 83, ký ức về những người đồng đội ngã xuống chưa bao giờ phai mờ trong ông. Ông thường xuyên sang Lào và Campuchia để tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, đồng thời dùng hàng chục triệu kíp (tiền Lào) để tri ân đồng bào và nhà chùa ngày xưa từng che chở bộ đội. Khép lại dòng hồi ức, người cựu binh già chỉ tay vào tấm huân chương trên ngực áo và ngậm ngùi nói: "Huân chương tôi đeo ở đây là máu của đồng đội tôi đấy". Ông gửi gắm mong mỏi thế hệ trẻ ngày nay phải hiểu được cái giá của hòa bình, ghi nhớ công lao của thế hệ cha anh để gìn giữ, bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam vươn lên mạnh mẽ.



