HỒI ỨC CHIẾN TRƯỜNG XƯA
HỒI ỨC CHIẾN TRƯỜNG XƯA
Đã năm mươi mốt năm từ khi cuộc kháng
chiến chống mỹ thắng lợi vẻ vang, đất nước
Việt Nam ta đã hoàn toàn thống nhất, ngày
càng phát triển bước vào kỷ nguyên vươn
mình. Để đổi lấy sự hòa bình của dân tộc, để
đạt được những thành tựu ngày hôm nay, cha
ông ta đã đánh đổi bằng chính xương máu của
mình đứng dậy đấu tranh giành độc lập. Nhân
ngày kỷ niệm năm mươi mốt năm ngày
30/4/1975 Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng,
giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất
nước, chúng ta cùng theo chân người chiến sỹ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Long An
- Thiếu tá Nguyễn Văn Chuyển người mà mọi người vẫn thân mật gọi là Tư
Chuyển – kể lại những năm tháng chiến đấu của mình. Đó không chỉ là những câu
chuyện về một đời người lính, mà còn là những ký ức thấm đẫm máu, nước mắt, và
cả tình người sâu nặng của một thời chiến tranh khốc liệt.
Thiếu tá Nguyễn Văn Chuyển – nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1
Long An thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Đồng chí sinh năm 1942, quê ở phường
Tứ Minh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Nhập ngũ tháng 9 năm
1966, vào Trung đoàn 320 chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên tháng 2 năm
1967. Tháng 5 năm 1968, đồng chí vào chiến trường Long An, chiến đấu ở
đơn vị đặc công Trung đoàn 320, sau đó về Tiểu đoàn 1 Long An, chức vụ Đại
đội trưởng rồi Tiểu đoàn phó. Đồng chí được tặng thưởng một Huân chương
Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, ba Huân chương Giải phóng hạng Nhắt,
Nhi, Ba, ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba, Huy hiệu 55
năm tuổi Đảng, là thương binh 4/4.
Ông sinh năm 1942, quê ở phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương. Năm
1966, khi đất nước đang chìm trong khói lửa, ông rời quê hương, rời người vợ trẻ
và đứa con thơ để lên đường nhập ngũ. Ông kể lại điều đó bằng giọng bình thản,
nhưng tôi hiểu, phía sau sự bình thản ấy là một quyết định không hề dễ dàng. Đó là
sự lựa chọn của một thế hệ – lựa chọn đặt vận mệnh đất nước lên trên hạnh phúc
riêng.
Sau ba tháng huấn luyện cấp tốc, ông được điều vào chiến trường Tây
Nguyên, bổ sung cho Trung đoàn 320. Những ngày đầu cầm súng, ông tham gia
các trận đánh ở Đắk Tô, Tân Cảnh, Ngọc Rinh Nang… Đầu năm Mậu Thân 1968,
tôi là trung đội trưởng, đánh nhiều trận nữa ở Tây Nguyên, tiêu biểu là trận cầu
Đăk Mót, sân bay Tân Cảnh. Những địa danh ấy, qua lời kể của ông, hiện lên
không chỉ là những điểm trên bản đồ mà là những nơi nhuốm máu của biết bao
đồng đội.
Ông nói, gần hai năm ở Tây Nguyên là quãng thời gian đủ để một người lính
trẻ hiểu thế nào là chiến tranh. Đó là những ngày tháng mà cái chết luôn cận kề,
nơi mỗi trận đánh đi qua đều để lại những khoảng trống không thể lấp đầy. Trung
đoàn 320 chiến đấu rất kiên cường, lập nhiều chiến công, nhưng cũng chịu tổn thất
vô cùng lớn. Ông không kể nhiều về bản thân, nhưng mỗi khi nhắc đến đồng đội đã
ngã xuống, giọng ông chùng lại, ánh mắt xa xăm.
Sau Tết Mậu Thân 1968, đơn vị ông hành quân xuống đồng bằng, về chiến
trường Long An. Nếu Tây Nguyên là núi rừng hiểm trở, thì Long An lại là một thế
giới hoàn toàn khác – sông nước chằng chịt, địa hình phức tạp, địch kiểm soát gắt
gao. Ông được cử đi học đặc công, rồi nhanh chóng đảm nhiệm vai trò Đại đội
trưởng Đại đội đặc công 29.
Ông kể, để thích nghi với chiến trường đồng bằng, bộ đội phải rèn luyện
trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt: đeo gạch, đá hành quân, lội nước hàng
giờ, tập uống nước lã để quen với bệnh tật. Những chi tiết tưởng như nhỏ nhặt ấy
lại khiến tôi hình dung rõ hơn về sự gian khổ mà ông và đồng đội đã trải qua.
Có những giai đoạn, đơn vị bị tiêu hao nặng nề, thiếu thốn đủ bề. Trong hoàn
cảnh đó, ông vẫn kiên quyết xin trở về Trung đoàn khi được đề nghị ở lại đơn vị
địa phương. Ông nói đơn giản: mình là cán bộ của Trung đoàn, phải trở về với đơn
vị. Lời nói ấy không chỉ thể hiện kỷ luật, mà còn là sự gắn bó sâu sắc với tổ chức
và đồng đội.
Trong rất nhiều trận đánh mà ông từng trải qua, có lẽ trận đánh bốt Rạch Gõ
năm 1972 là một trong những ký ức sâu đậm nhất. Đó là một cứ điểm kiên cố,
được phòng thủ chặt chẽ. Đại đội của ông chia làm hai mũi tiến công. Điều khiến
ông trăn trở là thời điểm nổ súng – 5 giờ sáng, khi trời đã sáng rõ, không còn lợi
thế của đặc công đánh đêm.
Dẫu vậy, mệnh lệnh vẫn phải được thực hiện. Đúng giờ quy định, ông ra
lệnh tấn công. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Ông bị thương bởi lựu đạn, rồi
tiếp tục bị đạn M79, nhưng vẫn trực tiếp chỉ huy, xông lên phía trước. Ông kể lại
khoảnh khắc dùng B40 tiêu diệt hỏa điểm địch bằng giọng điềm tĩnh, nhưng tôi
hiểu, đó là giây phút sinh tử. Ông bị thương ở cằm trái, viên bi lựu đạn đến nay vẫn
còn. Ông đứng dậy, giật lấy khẩu B-40 của đồng chí bên cạnh, chĩa đầu đạn về
phía lỗ châu mai, đúng lúc đó, tên địch bắn một loạt AR15, đạn bay sát sườn phải
của ông, rách cả áo. Ông bóp cò B-40, tiêu diệt lỗ châu mai và tên lính.
Khi rút quân, ông gần như kiệt sức. Bị thương, đói, mệt, ông phải bò lết qua
ruộng sình, rồi bơi theo dòng nước để tìm về vị trí tập kết. Ông nhớ rất rõ từng chi
tiết: bát cơm nguội giữa trưa, cơn đau nhói khi nhai cơm, dòng máu chảy trên má.
Thậm chí, ông còn kể lại việc phát hiện khẩu B40 bị thủng do trúng đạn, khiến lửa
phụt ngược làm ông bị bỏng lưng. Những chi tiết ấy không chỉ là ký ức, mà là
minh chứng sống động cho sự khốc liệt của chiến tranh.
Thế nhưng, nếu trận Rạch Gõ là ác liệt, thì trận đánh ngay trước ngày Hiệp
định Paris có hiệu lực đầu năm 1973 lại là bi thương. Lúc đó ông là Tiểu đoàn phó
Tiểu đoàn đặc công 7, đêm 25 tháng 1 năm 1973, được giao nhiệm vụ trực tiếp dẫn
Đại đội 3 do đồng chí Cai là Đại đội trưởng, hành quân về Láng Cò. Đêm 26 tháng
1 đên Kinh Tắc, Ấp 1, xã Bình Phong Thạnh, huyện Thủ Thừa
Trận chiến diễn ra không cân sức. Pháo địch dội xuống như mưa, máy bay
quần thảo trên đầu, trận địa bị san phẳng. Đồng đội của ông lần lượt ngã xuống.
Ông cùng một chiến sĩ liên lạc tìm đường thoát, nhưng người đồng đội ấy đã hy
sinh ngay trước mắt ông.
Khi kể đến đây, giọng ông trầm xuống. Ông nói về việc quay lại trận địa
trong đêm, hy vọng tìm được người còn sống, nhưng tất cả chỉ còn là im lặng.
“Anh em nằm lại đó…” – câu nói ấy khiến lòng tôi nghẹn lại. Đó không chỉ là nỗi
đau cá nhân, mà là nỗi đau của cả một thế hệ.
Trong hoàn cảnh ấy, ông được người dân che chở, nuôi giấu giữa vùng địch.
Ông nhắc đến những con người bình dị với sự biết ơn sâu sắc. Chính họ đã cứu
sống ông, giúp ông trở về đơn vị. Ông kể, tang tảng sáng, tôi vượt sông Vàm Cỏ
Tây đến một nhà dân ngay cạnh bờ sông. Chủ nhà là ông Tám Mái. Thấy tôi, ông
không dám chứa. Tôi nói với ông: "Cháu là bộ đội giải phóng, không hại dân đâu".
Ông không nói gì. Nhưng khi tôi quay lưng đi ra, ông gọi lại: "Chú ở đây với tôi
một ngày đã, bây giờ chú đi, lính bắn chết". Rồi ông chỉ tôi ra bụi dừa nước ở sông
Vàm Cỏ Tây "chém về" .11 giờ trưa, ông đem cho tôi một gô cơm. Đêm, ông đưa
tôi lên ngồi ở một gò đất. Lúc 2 giờ sáng, tôi nghe tiếng súng nổ ran, nhưng đường
đạn không hướng về phía tôi. Đó là tiếng súng của du kích, diệt bọn địch đi tuần.
Tôi chồm dậy, chạy nhanh vào một nhà dân nữa. Đó là nhà ông Trần Văn Hiếu
(gọi là Tám Hiếu). Ông là một cơ sở của ta, nên rất nhanh chóng, ông chỉ cho tôi
chỗ "chém vè" Tôi ở với ông bảy ngày đêm. Bốt địch nằm ở ngay phía bên kia
kênh. Đêm đêm, sau khi ông nấu cơm nóng cho tôi ăn, tôi thường kể chuyện thời
sự, chuyện miền Bắc cho ông nghe, ông rất thích. Sang ngày thứ tám, tôi nói với
ông: "Đêm nay cháu phải long (bơi) sông đi về Tràm Tân Đông". Ông Tám Hiếu
bảo: "Vậy để tôi nói mấy đứa nhỏ đưa chú đi, chú đi một mình sao được". Rồi ông
dẫn tôi ra bến sông Vàm Cỏ Tây, cách bốt Kênh Tắc 200m. Ông bảo tôi nằm
xuống dưới đáy ghe và đậy lưới đánh cá lên trên. Lái ghe đưa tôi đi là hai cô gái.
Lúc còn ở trên bờ, tôi nghe hai cô nói nhỏ với nhau: "Chỗ sắp đến có Việt cộng
mới về" ". Tôi thấy họ nói đúng chỗ tôi cần đến nên yên tâm. Sau đó, tôi được biết,
hai cô gái đó là chị em ruột. Một cô là Nguyễn Thị Bê (Ba Bê), một cô là Nguyễn
Thị Quân (Năm Quân), con dâu ông Tám Hiếu. Cũng như ông Tám Hiếu, chị Ba
Bê là một cơ sở cốt cán của ta trong lòng địch. Chị đã giúp đỡ rất nhiều cho bộ đội
và kháng chiến”. Qua lời ông, tôi hiểu rằng chiến thắng không chỉ đến từ súng đạn,
mà còn từ lòng dân.
Sau đó, ông tiếp tục tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ. Có trận phục kích ở
An Thạnh, đơn vị ông tiêu diệt hơn một trăm tên địch. Có những trận đánh tàu trên
sông Vàm Cỏ Đông, góp phần cắt đứt tuyến tiếp tế quan trọng của đối phương.
Trong mỗi trận đánh, ông đều nhấn mạnh tinh thần kỷ luật, sự hiệp đồng và lòng
dũng cảm của từng chiến sĩ.
Ông nói, điều quý giá nhất không phải là chiến công, mà là tình đồng chí,
đồng đội. Đó là thứ tình cảm không phân biệt Bắc – Nam, gắn bó như ruột thịt, sẵn
sàng sống chết vì nhau. Và cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh giúp đơn vị
vượt qua mọi thử thách.
Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông cùng Tiểu đoàn 1 tiến về Sài
Gòn. Ông kể về buổi sáng 30 tháng 4 năm 1975 với niềm xúc động sâu sắc. Đơn vị
tiến vào nội đô, chiếm lĩnh các vị trí, truy quét tàn quân. Khi lá cờ cách mạng tung
bay, ông biết rằng cuộc chiến đã kết thúc.
Nhưng niềm vui chiến thắng không trọn vẹn. Ông lặng lẽ nói: “Ngày toàn
thắng, ai còn ai mất…”. Câu nói giản dị ấy chứa đựng biết bao mất mát. Rất nhiều
người đã không thể chứng kiến ngày đất nước thống nhất.
Một kỷ niệm đặc biệt khác mà ông kể khiến tôi không khỏi xúc động là việc
ông từng bị báo tử nhầm. Trong một trận đánh, đơn vị nhận tin có người hy sinh
giống ông, nên đã làm thủ tục báo tử về quê. Gia đình ông đã tổ chức truy điệu.
Tấm bằng “Tổ quốc ghi công” mang tên ông được treo trên tường.
Mãi đến cuối năm 1975, khi ông trở về phép, gia đình mới vỡ òa trong niềm
vui đoàn tụ. Khoảnh khắc ấy, theo lời ông, vừa hạnh phúc, vừa nghẹn ngào. Nó
cho thấy chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng, mà còn để lại những vết thương
tinh thần sâu sắc trong mỗi gia đình.
Sau chiến tranh, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội cho đến khi nghỉ hưu.
Nhưng ký ức về chiến trường thì không bao giờ phai nhạt. Ông nhớ từng con kênh,
dòng sông, từng địa danh ở Long An như nhớ về chính quê hương mình. Với ông,
Long An không chỉ là nơi chiến đấu, mà là quê hương thứ hai – nơi lưu giữ cả tuổi
trẻ và những kỷ niệm không thể nào quên.



