Mẹ Việt Nam Anh hùng

HỒI ỨC CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

Nguyễn Thị Tư, sinh năm 1938, quê ở xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh)

Hải Phòng13/01/2026Nguyễn Thị Thanh Hà (Đoàn xã Vĩnh Thịnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
HỒI ỨC CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

Nguyễn Thị Tư, sinh năm 1938, quê ở xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh). Năm nay đã gần chín mươi tuổi, mắt mờ, chân chậm, nhưng mỗi khi nghe tiếng máy bay trên bầu trời, ký ức của những năm tháng bom đạn lại ùa về, rõ ràng đến nhói lòng.

Ngày ấy, tôi không nghĩ mình sẽ trở thành Mẹ Việt Nam Anh hùng. Tôi chỉ là một người phụ nữ miền quê, làm ruộng, nuôi con. Nhưng khi giặc đến cày xới làng mạc, bắn giết dân lành, tôi không thể đứng yên.

Năm 1965, tôi tham gia đội du kích xã Bình Mỹ, làm nhiệm vụ giao liên, tải đạn, nuôi giấu cán bộ và trực tiếp chiến đấu khi cần thiết. Ban ngày tôi là người đàn bà gánh nước, ban đêm là du kích bám địa đạo, cầm súng giữ làng.

Tôi còn nhớ rất rõ trận càn lớn của địch tại Củ Chi năm 1968. Sáng hôm đó, máy bay trực thăng quần thảo trên đầu, pháo từ xa bắn dồn dập vào làng. Đội du kích chúng tôi chỉ có vài khẩu súng bộ binh, nhưng ai cũng quyết tâm giữ đất.

Trong tổ chiến đấu hôm ấy có:

  • Nguyễn Văn Phúc, sinh năm 1944, quê xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

  • Lê Thị Hồng, sinh năm 1947, quê xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

  • Trần Văn Dũng, sinh năm 1945, quê xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc

  • Khi địch tràn vào ấp, tôi cùng chị Hồng ở lại chốt hầm, làm nhiệm vụ tiếp đạn và cứu thương. Đạn nổ ngay trên đầu, đất đá trút xuống, có lúc tôi tưởng mình không thể sống sót. Anh Phúc bị thương nặng ở ngực, tôi xé áo làm băng, kéo anh xuống hầm bí mật, mặc cho bom nổ rung cả lòng đất.

    Trong trận đó, con trai lớn của tôi là Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1959, cũng tham gia đội du kích thiếu niên dẫn đường. Cháu bị trúng mảnh bom khi đang đưa thương binh ra khỏi vùng càn. Cháu hy sinh khi mới 9 tuổi. Tôi cắn răng nuốt nước mắt, tiếp tục chiến đấu, vì nếu tôi gục xuống thì làng này sẽ không còn ai giữ.

    Sau trận càn, nhiều nhà cháy rụi, nhiều đồng đội nằm lại. Nhưng làng còn, địa đạo còn, cách mạng còn. Tôi tiếp tục bám trụ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

    Sau năm 1975, tôi tiễn thêm hai người con trai nữa vào đất mẹ. Các con tôi hy sinh ở chiến trường Tây Ninh và Bình Long. Đến khi Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng, tôi chỉ thắp nén nhang, nói với các con rằng:
    “Đất nước mình yên bình rồi, các con yên nghỉ nhé.”

    Giờ đây, khi ngồi trước hiên nhà, nhìn lũ trẻ cắp sách đến trường, tôi chỉ mong một điều:
    Những gì thế hệ chúng tôi đã chịu đựng, các con cháu sẽ không bao giờ phải trải qua nữa.
    Hòa bình này là máu xương của biết bao người mẹ, người con, từ Bắc chí Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn