HỒI ỨC CUỘC CHIẾN 1979
Mấy ngày hôm nay, thi thoảng tôi lại nhận được những cuộc điện thoại của đồng đội gọi. Anh Tuấn ơi, anh có nhớ giờ này, ngày này của 44 năm về trước không? Nhớ lại xúc động lắm anh ơi…đúng như vậy các đồng đội ạ, không bao giờ quên được những ngày tháng của cuộc chiến ấy đâu!
3h sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, đồng chí trực ban gọi tôi dậy báo ban chỉ huy tiểu đoàn gọi lên nhận nhiệm vụ. Khi lên đến Ban chỉ huy tiểu đoàn thì được thông báo hiện nay khu vực thị trấn Mường Khương đang có những lộn xộn bất thường; đồng thời lệnh cho đại đội 3 kiểm tra ngay xem lực lượng nào đang đào hầm, chặt thông khu vực chân dốc lên bản Dì Thàng thuộc địa bàn đại đội 3 đóng quân; đồng thời đồng chí tiểu đoàn trưởng viết lệnh báo động, cả tiểu đoàn thức dậy mọi người tất bật chuẩn bị vũ trí, trang bị để sẵn sàng chiến đấu.
Đúng 4h30 khi tổ trinh sát của tiểu đoàn và lực lượng đại đội 3 xuống kiểm tra theo mệnh lệnh của tiểu đoàn, nhưng vừa mới đến chân dốc lên bản Dì Thàng, thì quân Trung Quốc bắt đầu nổ súng bắn vào đội hình trinh sát và lực lượng đại đội 3. Lúc này khắp nơi đều ầm ầm tiếng pháo, tiếng súng, tiếng đạn nổ, lửa cháy xé toạc màn đêm thị trấn Mường Khương. Chiến tranh xâm lược biên giới của quân Trung Quốc bắt đầu! Thông tin từ các chốt tiền tiêu báo về có rất nhiều tiếng động cơ xe tăng đang từ cửa khẩu tiến vào thị trấn, lập tức các bộ phận hoả lực được điều ra đánh tăng. Từ trận địa của ta bên đồi thông, các khẩu đội DKZ, 12,7ly, cối 82mm đã sẵn sàng lấy phần tử bắn hướng về phía cầu Sao Đỏ và dọc theo đường lên núi Cô Tiên. Trời mờ sáng, khi đoàn xe tăng địch xuất hiện, lập tức những quả đạn DKZ đỏ rực vun vút lao vào xe tăng địch. Bị đánh trả quyết liệt, toàn bộ đoàn xe tăng địch vội rút về phía biên giới thì bị tổ chống tăng B40, B41 của đại đội 2, đại đội 4 của tiểu đoàn mai phục tại ngã ba Mã Tuyển bắn cháy 7 chiếc, số còn lại 17 chiếc chen nhau tháo chạy sang bên kia biên giới, để lại rất nhiều xác chết.
Với chiến thuật “biển người”, chúng đã huy động lực lượng tiến công vào thị trấn Mường Khương với 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, 2 trung đoàn pháo 105 và 120; trong khi đó lực lượng của ta chốt giữ chỉ có Tiểu đoàn 3 với 3 đại đội và cơ quan tiểu đoàn, còn 1 đại đội đang chốt chặn ở tận Pha Long. Quá chênh lệch cả về lực lượng và vũ khí trang bị, do vậy, ngay những ngày đầu chặn giặc Tiểu đoàn 3 đã gánh chịu tổn thất, nhiều cán bộ, chiến sỹ đã anh dũng hy sinh; trong đó có 3 đồng chí chỉ huy cấp đại đội đó là: Anh Bùi Trọng Ngọ Đại đội 2, anh Nguyễn Văn Bảo Đại đội 3, anh Nguyễn Văn Chiến Đại đội 4. Sau lần tiến công lần thứ nhất thất bại, xe tăng địch phải tháo chạy về bên kia biên giới và tiếp tục tổ chức các đợt tiến công bằng pháo binh. Chúng bắn như vãi đạn vào trận địa của ta và trung tâm thị trấn. Lực lượng quân ta quá mỏng, cả ngày quần nhau với địch mệt nhoài quên cả đói khát. Chiều dần buông, sương rơi nặng hạt cũng là lúc im tiếng súng, đơn vị rút quân lên Sa Pả 9 và Sa Pả 10 đề bảo toàn lực lượng và xây dựng phương án chiến đấu tiếp theo. Màn đêm bao trùm, chúng tôi phân công nhau 3- 4 người một tổ nằm nghỉ trên đường, mỗi tổ cách nhau vài chục mét để còn chi viện cho nhau khi địch tập kích vào đội hình. Chúng tôi nằm sát bên nhau, thì thầm điểm lại những diễn biến chính trong trận đầu tiên, cùng thề sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, nếu có chết thì chết thật vinh quang chứ quyết không để một ai rơi vào tay giặc.
6h sáng ngày 18 tháng 2 năm 1979, Chính trị viên tiểu đoàn Lê An quyết định cho bộ phận trợ lý của tiểu đoàn đem toàn bộ hồ sơ quân lực của đơn vị rút về phía sau. Tuy nhiên khi tốp ba người chúng tôi cùng đồng chí trợ lý tiểu đoàn chưa kịp vượt vòng vây thì địch đã phát hiện, bao vây bắn sối sả như quải đạn buộc tổ bảo vệ tài liệu chúng tôi phải quay lại nổ súng đánh trả. Toàn bộ hệ thống thông tin liện lạc từ Huyện đội đến Ban chỉ huy tiểu đoàn và các đại đội đã bị địch vô hiệu hoá, chỉ còn đánh và đánh đến viên đạn cuối cùng. Đến 11h trưa ngày 18, sau khi bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của địch, trận địa đã im tiếng súng. Tôi vội tụt xuống đường chuyển hai bao tải các tài liệu mật của tiểu đoàn đem dấu sâu vào trong hang đá hậu phẫu của đơn vị. Khi đã cất dấu tài liệu xong, tôi gặp anh Hoàng Vĩnh Giang quân y sỹ của tiểu đoàn. Sau vài câu hỏi thăm tình hình chiến sự thì anh Giang bùi ngùi nói với tôi:
- Thằng Đảng, đồng hương của chú vừa hy sinh rồi vì vết thương quá nặng , anh không thể cứu chữa được dù đã cố hết sức; còn thằng Hùng, hy sinh trên đường Sa Pả 11 rồi em ơi! Nghe anh nói thế, tôi lặng người, choáng váng vì đau sót, chỉ kịp theo anh đến bên phiến đá nơi đặt Đảng nằm đó, nhìn mặt nó lần cuối, rồi bẻ vội cành cây đắp lên thi thể nó với dòng nước mắt nghẹn ngào. Tôi vội bước nhanh ra khỏi hang.
Bên ngoài, trên trận địa lại tiếp tục rền vang tiếng súng, tôi vội lao lên cùng với anh Hà Văn Hiệu (chiến sỹ C2- quê xã Hồng Ca, Trấn Yên), anh Vinh nhân viên tài vụ (quê xã Văn Phú, thành phố Yên Bái), anh Bản Trợ lý quân khí (quê xã Việt Thành, Trấn Yên) để chiến đấu. Nhìn mặt ai cũng đen xạm vì khói bụi, mắt trũng sâu thâm quầng vì mất ngủ, vì đói, vì khát, chỉ có cái miệng là giống nhau bởi hai bờ môi của ai cũng khô, nhăn nheo có vành nước bọt khô cứng vòng quanh vì gào thét, gọi nhau trong tiếng pháo và khói bụi…
Đến 4h chiều, địch lại tiếp mở đợt tấn công với lực lượng lớn hơn, có pháo binh yểm trợ, nhằm dồn lực lượng của ta co cụm vào một chỗ để tiêu diệt. Trong tiếng đạn pháo nổ chát chúa, anh Tuỳ tiểu đoàn trưởng hô to “tất cả lên chiếm lấy điểm cao”. Chúng tôi lập tức vừa bắn, vừa chạy ngược lên núi, chiếm lấy toàn bộ cao điểm để hỗ trợ cho nhau cầm cự với địch….Một quả đạn pháo nổ gần hất tung tôi lên và ngã lộn nhào xuống đất, cố đứng dậy, nhưng chưa thể đi được, thì bất chợt phát hiện bụi cây trước mặt rung rung như có người nắm cây, đu người để leo ngược dốc. Tôi đoán, chắc pháo binh địch chuyển làn để lực lượng bộ binh tràn lên bao vây, tiêu diệt lực lượng của ta. Nghĩ thế, tôi vội kê khẩu AK lên mỏm đá, rê nòng súng theo hướng khả nghi và sẵn sàng bóp cò; nhưng rồi chợt nghĩ, nếu mình bắn mà chưa nhìn rõ địch, mình bắn trượt thì nó sẽ tiêu diệt mình. Phải đợi thêm để nó vào gần, loạt đạn này sẽ trả thù cho thằng Hùng, thằng Đảng. Khi mục tiêu chỉ còn cách tôi 7- 8m, bất chợt một cái đầu nhô ra…ôi tiểu đoàn trưởng Đinh Công Tùy, tay cầm súng, tay thì sốc nách thằng Lê Xuân Ngoan, liên lạc của anh (Ngoan quê xã Cam Cọn, Bảo Yên). Tôi mừng qua, quên hết cả đau, vùng đứng dậy lao về phía anh Ngoan, vừa chạy, vừa gọi:
- Anh Tuỳ, em Tuấn đây!
- Tuấn à! Anh đây, mày có bị sao không? Mày giúp anh dìu thằng Ngoan lên với. Nghe anh nói, tôi vội sốc nách đỡ lấy Ngoan và nói trong hơi thở:
- Hú hồn, tý nữa thì em lia cho hai thầy trò anh “một băng”.
Tôi và anh Tuỳ người ôm, người đẩy cùng, dìu thằng Ngoan leo ngược lên đỉnh núi. Trời về đêm, sương rơi càng nặng hạt. Phải loay hoay một lúc lâu, tôi và anh Tuỳ mới tìm được một cái hang nhỏ có bụi cây che khuất um tùm. Vừa đói, khát lại mệt mỏi, ba anh em chúng tôi chìm trong giấc ngủ chập chờn. Quá nửa đêm, trời gần sáng thì tôi không sao ngủ được bởi cái đói, cái khát hành hạ, ruột gan cứ sôi sùng sục, miệng đắng ngắt; tôi bò ra khỏi hang để nghe ngóng tình hình thì phát hiện một cây bứa. Tôi vội bẻ một cành có nhiều lá xanh non nhất ôm vào hang, cả ba anh em nhét vội vàng những nắm lá vào mồm nhai ngấu nghiến. Ôi …cái vị chua chua, chát chát, bùi bùi lúc ấy sao mà ngon đến thế, tôi vẫn cảm nhận được đến tận bây giờ. Sau khi giải quyết tạm thời đánh lừa cái dạ dày, ba anh em lại dìu nhau bò ra khỏi hang nghe ngóng tình hình và tìm đồng đội xem có còn ai? Dưới chân núi, địch đang lùng sục, những chỗ nghi vấn chúng lại xả súng hoặc tung lựu đạn, những tiếng nổ chát chúa rền vang cả một vùng. Ba anh em đang lần mò từng bước thì bất chợt có tiếng người vẳng lại. Cả ba anh em lập tức bò sát đến thì phát hiện một tốp quân cùng đơn vị, trong đó có anh Giang quân y sỹ tiểu đoàn và hơn chục người hầu hết đã bị thương rút từ hang phẫu thuật khi địch tràn tới.
Cả đoàn tiếp tục đi, chợt phát hiện tiếng người ho khan vọng đến. Tôi và mấy anh em còn khoẻ vội bò đến thì thấy một cửa hang - Tôi chụm tay gọi nhỏ:
- Đơn vị nào đấy?
Có tiếng trả lời của ai đó từ trong hang mờ tối vọng ra - D3 đây! .. Tốp này cũng hơn chục người, lính tổng hợp cả C2, C4 và lính tiểu đoàn bộ, trong đó có anh Đỗ Văn Tiên, Đại đội trưởng Đại đội 1 đi viện về đến Ban chỉ huy Tiểu đoàn ngày 16 tháng 2, định ngày 17 sẽ trở về đại đội đóng ở Pha Long thì xảy ra chiến sự. Thế là chúng tôi đã tập hợp được lực lượng hơn ba chục cán bộ, chiến sỹ. Pháo địch lại bắn dồn dập lên các cao điểm chúng nghi có quân ta đang cố thủ. Vừa luồn tránh pháo địch vừa tìm cách đưa thương binh đến nơi an toàn, cả đoàn đã tìm được một chiếc hang tương đối rộng. Khi đã bố trí lực lượng cảnh giới xong, chúng tôi tập trung ra nơi lòng hang rộng để họp bàn cách đưa thương binh ra. Sau khi thống nhất, anh Tiên được phân công làm chỉ huy trưởng, anh Giang làm chỉ huy phó. Sau cuộc họp khẩn cấp, tôi và anh Tuy được giao nhiệm vụ ở lại. Anh Giang nói: Còn một người cũng phải giữ vững trận địa, sau 24 giờ sẽ có lực lượng chi viện.
Chúng tôi rời khỏi hang, quan sát địa hình, nhìn sang bên kia núi là đường vào xã Nấm Lư đã bị địch chốt chặn. Tôi chỉ đường:
- Để tránh địch và đưa thương binh ra an toàn, các anh phải vòng qua thôn Na Đẩy, cắt lên đỉnh núi, bên kia là thôn Nấm Oọc, vòng qua Nấm Lư rồi theo đường vào Nùng Khấu Nhin…
Phải đợi đến 9 giờ tối, đoàn đưa thương binh mới xuất phát, chúng tôi ôm nhau tạm biệt; lòng chĩu năng, lo lắng cho đồng đội đưa thương binh vượt vòng vây quân thù.
Đến khoảng 7 giờ sáng ngày hôm sau, sương chưa kịp tan nhưng tiếng loa của lũ “tàu khựa” đã léo nhéo kêu gọi bộ đội ta ra hàng. Tôi lâm bẩm “kệ mẹ chúng mày, cho chúng mày kêu gào đến nổ họng - bố mày có chết cũng không đầu hàng”….Thế là tôi tỉnh bơ gác chân chéo ngũ nằm mơ màng nửa ngủ, nửa thức. Rồi tôi chợt nhớ đến gia đình ông bà Dỉ là chủ nhà chúng tôi đang ở. Ông bà quí tôi và anh Khoa quân lực như con cháu trong nhà, có gì ăn ngon ông bà cũng để phần cho hai chúng tôi. Ông bà có 5 người con, cô con gái thứ 2 mới 16 tuổi đang học sư phạm 7+2 ở Nghĩa Lộ. Thi thảng em mới về thăm nhà, mỗi lần chuyện trò với chúng tôi, em hay then thùng, xấu hổ đỏ bừng trên khuân mặt thanh tú, lại càng tôn lên vẻ đẹp dịu dàng của cô gái vùng sơn cước, cùng với ông bà Dỉ cũng rất quý tôi, nên mọi người trong đơn vị vui đùa hay gán ghép tôi là con rể... Không biết ông bà có kịp sơ tán không? Bây giờ đang lưu lạc nơi đâu?
Đến gần trưa, tôi quay lại hang cũ để bẻ ít lá bứa để làm “món gỏi” với thịt hộp, bất chợt phát hiện có tiếng động phía trước. Theo phản xạ tôi ngồi thụp xuống, mắt quan sát, tay bật khoá an toàn khẩu AK thì nhận ra tiếng nói đúng là tiếng người việt, chứ không phải tiếng “xoong thủng, chảo thủng” của bọn “Tầu khựa” - Tôi hô nhỏ:
- Ai, lính đơn vị nào?
- Lính C2 đây! Dứt tiếng gọi, tôi nhận ra thằng Lợi và thằng Minh, một thằng là đồng hương cùng xã, một thằng ở Việt Thành. Sau khi hội ý, bốn chúng tôi thống nhất nghỉ tại chỗ lấy sức, đợi đến tối sẽ vượt vòng vây. Đêm đó bốn chúng tôi lần mò từng mỏm đá, gốc cây tụt xuống qua các vách đá…Xuống đến khe nước bên trong thôn Na Đẩy, cả bốn người cùng vục mặt xuống uống lấy uống để rồi rửa mặt, vốc nước lên đầu, ui chao sao mà sướng thế, tỉnh táo và khoẻ hẳn lên, chợt thằng Minh phát hiện xung quanh có mấy xác chết, không biết là dân hay thanh niên xung phong bị phục kích từ mấy hôm trước. Thôi đành vậy, nghỉ mấy phút chúng tôi tiếp tục bò ngược lên núi, luồn qua các chốt của bọn Tàu, đến gần sáng sáng thì vượt qua được vòng vây của địch. Ngày hôm sau, khoảng 3 giờ chiều đến bản Páo Máo Phìn thì gặp được đội hình tiểu đoàn đang tập kết tại đây, trong đó có rất nhiều thương binh nặng được chuyển ra từ 2 ngày trước. Rồi cả lính đại đội 1 từ Pha Long rút xuống, lính đại đội 3 từ Dì Thàng rút về, có cả lính biên phòng, mỗi đồn chỉ còn lại mấy người…
Sau khi củng cố đội hình, bổ sung lực lượng và vũ khí trang bị, Tiểu đoàn 3 ngược bờ sông Xanh (sông Chảy) lên Si- Ma- Cai, vượt sông sang đất Mường Khương, phối hợp với các lực lượng chủ lực của Quân khu, của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh tiếp tục phản công giành lại các điểm cao chiến lược, cho đến ngày 15/3/1979 giới cầm quyền Bắc Kinh buộc phải tuyên bố rút quân về nước sau khi “dậy cho Việt Nam bài học”.
Tiểu đoàn 3 tạm thời chuyển về Nấm Lư (Mường Khương), củng cố đội hình, sãn sàng chiến đấu và cùng lực lượng dân quân tại chỗ truy lùng thám báo do địch móc nối, cài cắm đã tiếp tay cho địch. Được sự giúp đỡ của nhân dân, đơn vị đã bắt được bảy tên là đã chỉ điểm, dẫn đường cho địch trong những ngày đầu cuộc chiến xảy ra.
Qua 28 ngày cuộc chiến đấu bảo vệ Mường Khương, đầu năm 1979, Tiểu đoàn 3 được mang tên anh hùng LLVT nhân dânTrần Xuân lai, người con ưu tú của tỉnh Yên Bái, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, ngay trận dầu Đại đội 2 và Đại đội 4 của tiểu đoàn tại khu vực ngã ba Mã Tuyển (Mường Khương) đã đánh thiệt hại nặng lực lượng mũi ngọn tấn công hướng chính diện của địch, tiêu diệt tại chỗ 7 xe tăng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Hướng Pha Long, Đại đội 1 với hơn 90 cán bộ, chiến sỹ chốt giữ trên 18km đường biên, cùng với lực lượng Công an vũ trang (Đồn Biên phòng 202 đã được tuyên dương đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân) đương đầu với một lực lượng cấp trung đoàn chính quy của địch. Tiêu biểu nhất đó là Trung đội 1 chốt tại thôn Lao Páo Chải thuộc xã Tả Ngải Chồ do Chuẩn uý Trần Văn Thái là Trung đội trưởng đã kiên cường bám trụ, bẻ gãy nhiều đợt tiến công với chiến thuật “biển người”,tiêu diệt nhiều sinh lực địch, nhưng với lực lượng của trung đội quá mỏng, hết đạn buộc phải rút về tuyến sau, anh Thái chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và đã hy sinh anh dũng tại điểm chốt. Tiếp đó là chiến công của Đại đội 3, ngay sáng sớm ngày 17/2/1979, sau nhiều đợt pháo kích và tiến công của bộ binh địch, Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bảo và một số cán bộ trung đội, tiểu đội đã hy sinh. Song dưới sự chỉ huy của Chính trị viên Nguyễn Minh Huệ, Đại đội phó Lê Hữu Thiện và Trung đội trưởng Nguyễn Trung Nguyên vẫn giữ vững trận địa, trong đó có điểm cao 1383 và 1380 là chốt tiền tiêu của huyện Mương Khương đến thôn Dì Thàng trong suốt nhiều ngày, tiêu diệt nhiều địch và phá vòng vây, đưa lực lượng ra vùng an toàn, tránh xảy ra thương vong lớn.
Sau khi quân Trung Quốc rút về nước, tại Hội nghị mừng công của tỉnh, riêng Tiểu đoàn 3 Ban Chỉ huy quân sự Mường Khương đã có hơn hai trăm cán bộ, chiến sỹ được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba và Bằng khen, Giấy khen trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Thành tích chiến đấu là thế nhưng tiểu đoàn chúng tôi cũng chịu tổn thất khá lớn! đã có 65 cán bộ, chiến sỹ hy sinh và 69 bị thương...Mặc dù sau đó đã được trên kịp thời bổ xung về quân số, tổ chức biên chế từ cấp tiểu đoàn đến cấp tiểu đội; nhưng biết bao công việc trước mắt chúng tôi phải làm đó là: Phải tập trung nắm chắc tình hình địa bàn, tình hình địch, thành lập các tổ công tác, phối hợp với cấp uỷ chính quyền cơ sở thực hiện công tác dân vận động viên nhân dân khắc phụ hậu quả sau chiến tranh, từng bước trở lại ổn định cuộc sống; xây dựng kế hoạch tác chiến, kế hoạch phòng thủ, rồi công tác thương binh, liệt sỹ... ôi! trăm thứ “bà rằn”, công việc nào, nhiệm vụ nào cũng quan trọng, cũng cần phải tiến hành làm ngay. Mãi về sau khi nghĩ lại, tôi không hiểu tại sao ngày ấy chúng tôi có thể làm tốt được như thế? những người lính, những cán bộ, chiến sỹ của tiểu đoàn 3.
Là con đẻ của huyện Trấn Yên và là con nuôi của huyện Mường Khương, trong từng ấy năm tháng chúng tôi đã đoàn kết một lòng, cùng nhau vững tâm, bền trí xây dựng đơn vị. Cùng nhau bám trụ kiên cường, góp phần bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc và vùng biên giới của huyện Mường Khương. Bao nhiêu chiến công hiển hách, bao nhiêu những mất mát, hy sinh đều là những dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm trí những người lính Tiểu đoàn 3 ngày ấy.


