Hồi ức Đồng Lộc - Mai Phương Chi đoàn 10A10 THPT Ngọc Tảo
Ngày ấy là ngày 24/7/1968, tiểu đội 4 nhận nhiệm vụ san lấp hố bom, sửa đường, thông đường cho xe đi qua. Tiểu đội gồm 10 cô gái với Võ Thị Tần là tiểu đội trưởng và Hồ Thị Cúc là phó tiểu đội trưởng cùng những người đồng đội khác của mình.
Nhận được nhiệm vụ, bà đã phổ biến đến tiểu đội của mình:
“Các đồng chí, đoạn đường cần sửa là ngã ba Đồng Lộc đã bị đánh bom hư hại nghiêm trọng. Đây là mạch máu để hậu phương chi viện sức mình, sức của vào miền Nam nên chúng ta hãy quyết tâm sửa chữa nhanh nhất có thể để đoàn xe chở vũ khí, lương thực, thuốc men vào Nam chiến đấu.”
“RÕ !”
Ai trong mỗi cô gái đều biết đoạn đường mà tiểu đội cần sửa kia ẩn chứa vô vàn nguy hiểm nhưng họ là những cô gái thanh niên xung phong, họ là những cô gái kiên cường và bất khuất. Ai cũng dõng dạc, nói thật to, thật quyết tâm.
Trưa ngày hôm đó, các cô gái gấp rút bắt đầu công việc, họ làm việc không ngơi tay chân, mồ hôi ướt đẫm trên trán nhưng các chị không lãng phí thời gian để nghỉ ngơi dù chỉ một giây, đây là điểm giao quan trọng, phải hoàn thành sớm để quân đội ta có thể đi lại. Không chỉ vậy mà còn là sửa chữa các hầm trú ẩn, khơi sâu rãnh thoát nước để xe có thể đi qua. Mệt là vậy nhưng nhìn từng chuyến xe đi vào miền Nam thân thương mà ấm lòng đến lạ. Tiếc thay, người tính không bằng trời tính. Máy bay của lính Mỹ quay lại, dội bom vào đội hình của bốn cô gái. Bầu trời bị xé tan ra, máy bay phản lực của Mỹ vẫn cứ dội từng lượt bom tới, tiếng đạn pháo cao xạ nổ phá tan bầu trời yên bình của những ngày tháng bảy. Các chị em nhảy ngay xuống những chiếc hầm trú ẩn đang làm dở dang chiều nay, chị Tần trấn an mọi người:
“Giặc vẫn ở trên đó, chúng ngừng thả bom thì lên, thấy đất đá lồi lõm thì khéo mình mà tránh.”
10 người phụ nữ can đảm ngồi trong hầm, đợi đến khi hết bom sẽ ra ngoài, quả bom này nối quả bom kia như tiếng pháo rang. Điều không ngờ nhất là có một quả bom rơi thẳng xuống nơi các cô gái đang ẩn náu. Hầm chữ A bị sập, đất đá trên đầu lở xuống lở xuống ầm ầm từng tấc đất khô,trời đất tối như tối sầm lại, vùi lấp những cô thanh niên tuổi đời còn trẻ.
Lúc ấy là khoảng 16 giờ 40 phút chiều ngày 24/7/1968, anh Nguyễn Thế Linh đại đội trưởng Đại đội 552 đứng trước đài quan sát, thấy bom rơi trúng tiểu đội 4 làm anh lặng người đi. Bất chấp máy bay địch còn quanh quẩn trên đầu ,anh chạy thật nhanh xuống ngã ba Đồng Lộc. Thế nhưng không còn thấy một tiếng gọi, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng cô gái thanh niên nào kéo anh vào hầm trú mà chỉ còn thấy một chiếc nón rách tươm nằm trơ vơ giữa điểm giao Quốc lộ 15A và Tỉnh lộ 2. Anh hét lên thật to trong vô vọng.
“ Tiểu đội 4 đâu rồi? Tấn ơi ! Cúc ơi! Các em đang ở đâu ?”
Thay vì là những tiếng cười, những tiếng thở phào đáp lại trong trẻo của những cô gái trong tiểu đội thì thứ anh nhận lại chỉ là tiếng vang của núi rừng vọng lại. Anh vội vàng quay lại căn cứ, báo cho đồng đội:
“Các đồng chí ơi mau lại đây! Tiểu đội 4…bị… bom trúng rồi lấp hết rồi ở hầm chữ A rồi ! Nhanh cầm xẻng ra để cứu người các đồng chí ơi!
Từng nhát cuốc đất xẻng hối hả đào bới từng tấc đất lấp cửa hầm. Anh xót ruột nói với mọi người:
“Đào nhanh nhưng phải cẩn thận, lỡ trúng vào các đồng chí ở dưới.”
Lúc này anh chần chừ, cẩn thận xúc từng tấc đất. Bỗng chốc nhìn thấy cửa hầm, mọi người xúm lại chen nhau tìm người. Người đứng ngoài ngó nghiêng, người nức nở cầm từng nắm đất, miệng cầu cho những cô gái còn an toàn. Rồi họ phát hiện ra chị Võ Thị Tần ngồi ngay cửa hang nhìn máy bay, chân tay chị vẫn còn nguyên vẹn nhưng tim ngừng đã ngừng đập, mặt chị nhắm chặt nhưng mọi người vẫn không nản. Họ còn tìm những người còn lại trong tiểu đội với hy vọng sống mong manh. Tiếc rằng đã không có phép màu nào xảy ra. Mấy anh bộ đội mím chặt môi, mấy chị trong tiểu đội cố nén nước mắt khi thi thể của cái Nhỏ, cái Hường, cái Hà, cái Rạng được bế ra. Mọi người kính cẩn nâng niu đặt từng đồng chí lên bãi cỏ, ngay sau đó cũng tìm thấy chị Xuân, Hợi, Xanh đã nhắm mắt ngủ yên. Chỉ còn chị Hồ Thị Cúc là tìm mãi chưa thấy, hết ngày thứ nhất sang ngày thứ hai vẫn không thấy chị đâu. Mọi người vẫn không nản lòng, ngày đêm cuốc xẻng xới đất để tìm chị. May mắn làm sao, đến ngày thứ ba đã tìm ra chị. Người chị lớn của Tiểu đội 4. Chị hy sinh trong tư thế ngồi tựa lưng vào thành hầm, đầu đội mũ cối, tay vẫn ôm chặt chiếc cuốc bết dính đất cát. Các đầu ngón tay của chị bị bầm dập, rướm máu – minh chứng cho thấy sau khi hầm sập, chị đã cố gắng dùng tay cào bới đất cát trong vô vọng để tìm đường thoát ra trước khi hết oxy.
Tiểu đội 4 hy sinh, 10 nữ thanh niên xung phong đã nằm lại nơi chiến trường. Câu chuyện cũng đã gắn liền với một câu nói bất tử: "Máu có thể chảy, tim có thể ngừng đập, nhưng mạch máu giao thông không bao giờ được tắc". Những cô gái chỉ mới tuổi thanh xuân đôi mươi, người lớn nhất chỉ mới 24 tuổi còn em út của đội chỉ mới 17. Họ đã không tiếc đời mình hy sinh cho Tổ quốc, là biểu tượng hào hùng và bi tráng nhất của lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Bài thơ bất hủ: “Cúc ơi!” của cán bộ giao thông lúc bấy giờ Nguyễn Thanh Bính đã lấy đi bao nhiêu nước mắt của mọi người.
Cúc ơi! Em ở đâu không về với đội?
Chín bạn mỗi người một bến đợi
Hết chiều dài lại đến chiều sâu
Nhanh tay cuốc, tay xẻng đào đâu cho thấy
Đất sâu bao nhiêu, bọn anh không quản ngại
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chần chừ…
Qua đó, ta có thể thấy rằng hoà bình thật không dễ dàng để đạt được. Cái giá của hoà bình là rất đắt nhưng rất đáng. Ông cha ta đã đánh đổi xương máu để chúng ta có tự do, no ấm như ngày hôm nay. Chúng ta phải không ngừng tích cực học tập, làm theo gương Bác để trở thành những chủ nhân tương lai, đưa đất n
ước sánh vai với các cường quốc năm châu.


