HỒI ỨC MỘT THỜI LỬA ĐẠN (1)
HỒI ỨC MỘT THỜI LỬA ĐẠN
Gia đình là nơi khởi nguồn của yêu thương và cũng là bến đỗ bình yên nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Trong xã hội hiện đại ngày nay, những gia đình nhiều thế hệ cùng chung sống không còn nhiều như trước. Vì vậy, gia đình bốn thế hệ của tôi, luôn khiến tôi cảm thấy tự hào và hạnh phúc.
Trong gia đình, người mà tôi kính trọng nhất chính là ông nội – người đã trải qua gần một thế kỷ cuộc đời và mang trong mình những ký ức hào hung của một thời hoa lửa.
Năm nay ông đã 96 tuổi. Mái tóc bạc trắng, đôi bàn tay đã run run theo năm tháng, nhưng mỗi khi nhắc đến những năm tháng chiến tranh, ánh mắt ông tôi lại sáng lên đầy xúc động. Ông thường kể rằng khi còn trẻ, đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt, thanh niên ai cũng mang trong mình khát vọng được góp sức bảo vệ Tổ quốc. Tháng 01/1964, ông nhập ngũ vào Quân đội nhân dân Việt Nam, biên chế tại Tiểu đoàn 9, C11, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Từ đó cuộc đời người lính chính thức bắt đầu.
Những ngày đầu trong quân ngũ là chuỗi ngày huấn luyện nghiêm khắc. Ông cùng đồng đội phải rèn luyện rất nhiều nội dung như: chiến thuật chiến đấu, hành quân đường dài, tập kích ban đêm, phục kích…và nhiều bài tập gian khổ khác. Dưới cái nắng gắt gao, hay trong những đêm tối hành quân, mồ hôi thấm đẫm từng bước chân. Tuy vất vả và thiếu thốn, nhưng ai cũng quyết tâm rèn luyện thật tốt để sẵn sàng ra chiến trường. Đó là giai đoạn quan trọng nhằm chuẩn bị lực lượng cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tháng 03/ 1966, ông xuất ngũ trở về địa phương và tham gia lực lượng dân quân, giữ chức vụ Tiểu đội trưởng. Nhưng tình yêu Tổ quốc và tinh thần người lính trong ông vẫn luôn thôi thúc. Đầu năm 1967, ông quyết định tái ngũ, tiếp tục chiến đấu tại đơn vị C1, Nam Minh Hoà thuộc tỉnh đội Hà Nam Ninh. Trong thời gian này, ông giữ chức vụ trung sĩ, tiểu đội phó. Trách nhiệm trên vai càng lớn, nhưng ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Từ tháng 03/1968 đến tháng 05/1973, ông cùng đồng đội vào chiến trường miền Nam. Đây là quãng thời gian ác liệt nhất của cuộc chiến tranh. Bom đạn, gian khổ và thiếu thốn luôn rình rập, nhưng tinh thần của người lính vẫn không hề lung lay.
Ông kể: Ông tham gia vào Chiến dịch Xuân – Hè 1972 (còn gọi là “Mùa hè đỏ lửa”). Trong chiến dịch này, các đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến công mạnh mẽ vào hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn Quảng Trị, góp phần giải phóng tỉnh này trong thời gian đầu chiến dịch và gây thiệt hại nặng cho quân địch.
Sau đó giai đoạn phản công ác liệt của phía Việt Nam Cộng hoà với sự yểm trợ về vũ khí và hoả lực từ Hoa Kỳ, chiến trường Quảng Trị - trở thành nơi diễn ra những trận chiến vô cùng khốc liệt kéo dài nhiều tháng. Trung đoàn 209 của ông tham gia giữ chốt, phòng ngự và chiến đấu liên tục dưới hoả lực mạnh. Ông kể cho tôi nghe những năm tháng ấy, điều quý giá nhất chính là tình đồng chí, đồng đội, họ cùng nhau chia sẻ từng bữa cơm, từng giọt nước, cùng nhau vượt qua những khó khăn và luôn sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, từ tháng 06/1973 đến tháng 05/1975, ông được phân công công tác tại Ban kinh tài thuộc tỉnh Khánh Hoà (cũ). Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ông trở về với cuộc sống đời thường, nhưng vẫn tiếp tục cống hiến cho quê hương. Từ tháng 05/1975 đến 10/1989 ông làm cán bộ tại phân xưởng xí nghiệp cung ứng vật tư lương thực, vẫn cần mẫn lao động và đóng góp cho sự phát triển của địa phương.

Năm 1989 ông nghỉ chế độ hưu trí tại địa phương tại thôn Nghè, xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Không chỉ có ông tôi, mà trong gia đình tôi còn có một người nữa tiếp bước con đường ấy. Lớn lên trong những câu chuyện về chiến tranh và tinh thần kiên cường của ông, bố tôi cũng sớm nuôi trong mình tình yêu Tổ quốc. Tháng 05/1971 bố tôi lên đường nhập ngũ tại đơn vị B1, B2, Đại đội 5. Đoàn 4 huấn luyện báo vụ. Bộ tư lệnh thông tin liên lạc. Những năm tháng trong quân ngũ đã rèn luyện cho bố tôi ý chí mạnh mẽ, tinh thần kỷ luật và lòng trách nhiệm. Đó không chỉ là sự tiếp nối của các thế hệ mà còn là sự tiếp nối của lòng yêu nước và tinh thần cống hiến cho Tổ quốc.
Giờ đây khi đã trở thành một giáo viên, tôi luôn trân trọng những câu chuyện về quá khứ của gia đình mình. Trong mỗi bài giảng, trong mỗi hoạt động ngoại khoá tôi thường kể cho học sinh nghe về ông tôi – một người lính đã đi qua những năm tháng chiến tranh đầy gian khổ nhưng cũng vô cùng hào hùng. Những câu chuyện ấy không chỉ giúp các em hiểu thêm về lịch sử mà còn khơi dạy trong các em lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh đã hy sinh vì Tổ quốc.
Mỗi khi kể lại những kỷ niệm ấy, tôi luôn cảm thấy xúc động và tự hào. Tôi luôn mong rằng qua những câu chuyện nhỏ bé nhưung chân thật ấy, học sinh của mình sẽ hiểu hơn giá trị của hoà bình, biết trân trọng cuộc sống hôm nay và nuôi dưỡng tình yêu quê hương đất nước.




