Cựu chiến binh

HỒI ỨC NGƯỜI LÍNH GIÀ NGUYỄN MINH TUẤN – NHỮNG KÝ ỨC KHÔNG NGỦ YÊN

Ông Nguyễn Minh Tuấn, sinh năm 1938 trong một gia đình bần nông ở làng Hạnh Lâm, xã Mai Động, (nay là xã Đức Hợp) tỉnh Hưng Yên. Từ một chàng trai quê bình dị, tuổi đôi mươi ông lên đường theo tiếng gọi của Tổ Quốc, để lại sau lưng mái nhà nhỏ cùng người vợ trẻ.

Hưng Yên03/12/2025Nguyễn Thị Thu Nguyệt (THPT Nguyễn Trung Ngạn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
HỒI ỨC NGƯỜI LÍNH GIÀ NGUYỄN MINH TUẤN – NHỮNG KÝ ỨC KHÔNG NGỦ YÊN

Ông Nguyễn Minh Tuấn, sinh năm 1938 trong một gia đình bần nông ở làng Hạnh Lâm, xã Mai Động, (nay là xã Đức Hợp) tỉnh Hưng Yên. Từ một chàng trai quê bình dị, tuổi đôi mươi ông lên đường theo tiếng gọi của Tổ Quốc, để lại sau lưng mái nhà nhỏ cùng người vợ trẻ. Qua nhiều đơn vị với nhiều nhiệm vụ khác nhau, ông đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với tinh thần ham học hỏi, ông đã trở thành chỉ huy pháo cao xạ, chiến đấu trên nhiều mặt trận ác liệt: từ nước bạn Lào đến chiến trường miền Nam Việt Nam. cuộc đời ông gắn liền với những điểm cao pháo sáng chói, những cơn bom xé toạc bầu trời, và những đồng đội ngã xuống ngay trước mắt mình. Ông chiến đấu ở nước bạn Lào, rồi lại ngược vào miền Nam Việt Nam, nơi chiến tranh khốc liệt nhất.

Những năm tháng ấy chưa bao giờ phai trong tâm trí ông, dù hiện tại ông đã quên hết con cháu, quên cả đường về nhà. Nhưng ký ức chiến trường – những ký ức đáng lẽ ra phải được chôn sâu – lại bám riết lấy ông, từng ngày, từng đêm. Có lẽ vì chúng quá đau đớn để quên, nhưng cũng quá thiêng liêng để buông bỏ.

Là chỉ huy pháo cao xạ, ông Tuấn luôn ở vị trí đối mặt trực tiếp với máy bay Mỹ. Những trận đánh kéo dài đến khản giọng, tay run lên vì giật cò súng quá nhiều, tai ù đặc vì tiếng nổ chát chúa quanh mình. Vợ ông nhớ lại: “Tôi nghe nói pháo thủ dễ chết lắm. Nhiều khi bom rơi, chẳng còn nhận ra mặt người… Tôi chỉ biết ngồi ôm chiếc áo của ông ấy, cầu xin trời đừng gọi tên ông ấy vào danh sách hy sinh.”

Nhưng rồi chiến tranh đâu để cho lời cầu nguyện trọn vẹn. Một lần, hầm trú ẩn nơi ông đứng bị bom đánh sập. Đất đá phủ kín lên người. Khi đồng đội đào được ông lên, cơ thể ông đã lạnh dần, hơi thở tắt ngấm. Người ta tưởng ông đã ra đi. May mắn thay, sau nhiều giờ hồi sức, ông trở lại từ cõi chết, nằm mê man mấy ngày mới tỉnh.

Kể lại giây phút ấy, giọng ông chậm lại: “Tôi mở mắt ra… tưởng mình đã sang bên kia. Nhưng tôi sống. Sống để chứng kiến nhiều người khác không còn cơ hội ấy nữa.”

Từ sau lần ấy, mỗi khi thời tiết thay đổi, đầu ông lại đau nhói như bị ai đó bóp chặt. Và đến tuổi xế chiều, bệnh quên bủa vây ông, cuốn đi mọi ký ức của hiện tại. Chỉ có ký ức chiến tranh là không rời ông nửa bước.

Ông từng chứng kiến vô số cái chết của đồng đội – những cái chết quá đau đớn để kể thành lời. Ông nói mà như nén lại:

“Có những anh em… khi tìm được chỉ còn từng mảnh một. Phải nhận bằng dấu sẹo, bằng nốt ruồi, bằng vết thương cũ. Không nhận ra thì gom lại… rồi bốc chung. Chia mỗi người một phần để chôn cất.”

Nhiều đồng đội của ông chôn vội nơi chiến trường, dưới tán rừng, dưới hố bom sâu. Đến giờ ông vẫn không biết họ có được tìm thấy hay vẫn nằm lạnh lẽo giữa núi rừng xa lạ. Đó là nỗi day dứt không ai gỡ ra được – nỗi đau của người sống thay cả phần của người đã khuất.

Những đêm yên tĩnh nhất lại là những đêm ám ảnh nhất. Giờ đây, ông thường bật dậy giữa khuya, mồ hôi túa ra trên trán, mắt hoang mang như thời bom rơi đạn nổ. Ông nhìn quanh, hỏi vợ bằng giọng gấp gáp:

“Em ơi… ba lô anh đâu? Đồng đội đang đứng ngoài ngõ đợi anh lên đường…”

Người vợ đã sống với ông hơn nửa đời người chỉ biết ôm lấy tay ông, nghẹn ngào:

“Ông quên tất cả rồi… nhưng lại nhớ chiến tranh như mới hôm qua.”

Bà không trách, chỉ đau. Đau vì người chồng từng sống sót qua bom đạn, nhưng lại không thoát khỏi bóng đêm ký ức của chính mình.

Ngày 2/9/2025, khi xem diễu binh và diễu hành, ông lặng lẽ khóc. Những giọt nước mắt run run của một người lính già không còn nhớ tên con cháu nhưng vẫn nhớ như in từng gương mặt đồng đội.

Ông nói trong hơi thở đứt đoạn:

“Tôi còn sống… còn được nhìn thấy. Đồng đội tôi… chẳng còn ai được nhìn thấy hòa bình hôm nay”

Bên cạnh ông, vợ ông chỉ biết lặng lẽ lau nước mắt. Bà hiểu: nỗi đau ấy không có thuốc nào chữa nổi.

Năm 1974, trước khi lên đường cho chiến dịch giải phóng miền Nam, ông Tuấn lặng lẽ chụp một tấm ảnh gửi về. Ông dặn vợ:

“Nếu anh không về… thì lấy bức ảnh này làm ảnh thờ.”

Đó là lần đầu tiên bà thấy chiến tranh gần đến vậy – gần đến mức có thể cướp đi người chồng, cướp đi cả tương lai gia đình. Bà cầm bức ảnh trong tay và khóc đến kiệt sức, nhưng nước mắt ấy không ngăn được ông phải đi, không ngăn được bom đạn, không ngăn được nỗi chia ly mà biết bao người vợ lính thời ấy đều trải qua.

Năm 1987, ông Nguyễn Minh Tuấn trở về với cấp bậc trung tá, trở về với mái nhà, với người vợ chờ đợi gần nửa cuộc đời. Nhưng ông không trở về trọn vẹn. Một phần ông còn lại ở chiến trường, ở những hố bom, ở những ngọn đồi năm xưa, ở bên những đồng đội chưa bao giờ quay lại.

Giờ đây, ông quên hết thực tại. Nhưng chiến tranh – thứ đã cướp đi tuổi trẻ, cướp đi bạn bè, cướp đi bình yên – lại ghi hằn trong ông suốt cả cuộc đời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn