Người có công giúp đỡ cách mạng

Hồi ức người lính trinh sát: Từ chiến trường khói lửa đến những ngày hòa bình

Hải Phòng17/01/2026HẢI YẾN2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1969, chàng trai trẻ Nguyễn Xuân Trường gác lại việc học, rời quê hương lên đường nhập ngũ. Quyết định ấy được tiếp nối từ cha ông, người đã lên đường từ năm 1966 và mãi nằm lại nơi chiến trường năm 1969.

Nhập ngũ vào Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 338, sau những tháng huấn luyện ở Thanh Hóa, ông Trường hành quân vào Nam, chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên ác liệt.

Từ năm 1970 đến đầu 1972, ông tham gia các trận đánh ở Tây Nguyên rồi hành quân thần tốc xuống miền Đông Nam Bộ, tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ vào tháng 3-1972. Lúc đó, trung đoàn đánh chiến đoàn 49 của địch ở Xa Mát - Thiện Ngôn (Tây Ninh). Ông chia sẻ đầy tự hào: “Thời điểm ấy, trung đoàn tôi đã giải phóng toàn bộ và tiêu diệt căn cứ Xa Mát, Thiện Ngôn, bắt sống được 58 xe quân sự trong đó có cả xe tăng”.

Sau đó, ông cùng trung đoàn đánh dọc biên giới xuống Nam Bộ, vùng 4 Kiến Tường, Mỹ Tho, Long An. Dẫu nhiều lần bị thương, trong đó có một lần bị bom nổ khi đang ở đài quan sát năm 1972 khiến ông phải nằm điều trị nhiều tháng trời, tuy nhiên sau khi hồi phục ông đã trở lại đội hình, cùng đồng đội tiếp tục chiến đấu.

Đầu năm 1973, đơn vị cắm cờ trên đất Gò Công. Đến năm 1974, ông cùng đồng đội tiếp tục đánh địch và trú ở một số vùng kênh, những ngày tháng ấy vất vả nhưng đáng nhớ: “Ở dưới đầm lầy lắm, còn đi đánh nhau thì ở đấy không có khái niệm ba lô mà gọi là cái bồng, tất cả quần áo, mỗi người chuẩn bị 1 cái phao bơi dán 1 túi nilon, rồi trong quần áo thì cũng có 1 túi phao bơi bỏ quần áo để có thể bơi, đi lại qua sông bình thường mà không bị ướt”.

Ông Trường vẫn nhớ như in những ngày nằm vùng ở đất Gò Công, Tiền Giang – nơi mùi thơm của cá rán cũng có thể tố cáo vị trí với quân địch. Để tồn tại, những người lính trinh sát như ông phải nằm im quan sát, ho không dám ho, nấu nướng cũng phải tiết chế, sống trong sự cưu mang thầm lặng mà thắm tình đồng bào của nhân dân vùng giải phóng.

Những ngày tháng ấy, người lính trinh sát không trực tiếp xung phong đánh bốt mà làm công việc điều nghiên bí mật, bò sát hàng rào, kiểm tra bốt có bao nhiêu hàng rào, lô cốt, nằm ở vị trí nào, sau đó về báo cáo để đơn vị lên phương án đánh địch, dẫn đường cho bộ đội đánh chiếm mục tiêu. Đó là những nhiệm vụ thầm lặng nhưng đầy nguy hiểm, nơi mỗi bước đi đều rình rập cái chết từ mìn, từ lựu đạn đã được cài đặt.

Đến tháng 3-1975, trung đoàn ông chia thành hai: Một đánh chặn địch ở Ngã 6 (Cái Bè, Tiền Giang), một vượt sình lầy tiến về Sài Gòn. Sau khi giải quyết xong địch ở Ngã 6, cả trung đoàn được tập hợp lại đi về hướng Chợ Gạo để đi qua Long An, vừa đi vừa tiếp tục đánh từ Tân Trụ, qua sông Vàm Cỏ rồi ở Cần Đước và Cần Giuộc.

Đến tối ngày 29-4, đại đội trinh sát của ông được biệt động dẫn đường để tiến đánh vào Sài Gòn. Đơn vị của ông đánh từ Tân Trụ của Long An, Cần Đước, Cần Giuộc, đánh lên đến cầu Nhị Thiên Đường rồi đánh qua đến chân cầu Chữ Y. Đánh rền rã, dồn dập như vậy thì đến hôm 30-4, đơn vị của ông đánh đến được Tổng Nha Cảnh sát.

Nhớ lại ngày 30-4 lịch sử năm ấy, ông cho hay, thời đó, thông tin liên lạc chưa thuận tiện, các ông không nắm rõ được tình hình, cứ chiến đấu, đánh địch dọc ven đường. Khi đại đội của ông đến nơi, Tổng Nha Cảnh sát đã đầy người, các ông đi theo đến Dinh Độc Lập. Lúc đấy mới biết quân ta đã chiến thắng, khắp Dinh Độc Lập cờ giải phóng tung bay phấp phới.

Trải qua mấy năm chiến đấu, có những kỷ niệm mãi không thể quên đối với người lính già. “Tôi nhớ nhất một lần gặp nguy hiểm ở khu vực ngã ba Ôn Bích, có một cán bộ bị gài lựu đạn trong hầm hy sinh. Lúc ấy cả đơn vị phải bắn áp chế để cứu người ra. Chi khu Tân Bình, huyện Cai Lậy bị đánh rất dữ, tàu lên rất đông. Khi bị vây, có những lúc ba ngày không kiếm được gạo, phải ăn chuối luộc cầm hơi đến nỗi xây xẩm hết cả mặt mày”- ông Trường chia sẻ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn