Hồi ức về người lính Nguyễn Đức Về
Trong căn nhà cạnh đường, cạnh ngôi Trường Tiểu học của chúng tôi tại thôn Minh Thượng, xã Bắc Quang, tỉnh Tuyên Quang. Khi cô trò chúng tôi đến tri ân, thăm hỏi và động viên, nhân ngày thương binh liệt sỹ 27/7, đã được nghe lời kể lại của ông mà cảm thấy biết ơn bao thế hệ đi trước.
Hình ảnh Các em Đội viên tri ân ngày thương binh liệt sỹ 27/7
Mỗi khi chiều xuống, ông Nguyễn Đức Về, sinh năm 1949, thường ngồi tựa lưng bên hiên, nhìn ra khoảng sân trước nhà nơi rặng tre khẽ nghiêng mình theo gió. Ở tuổi xế chiều, dáng ông đã gầy và bước chân chậm lại, nhưng trong ánh mắt vẫn còn đó sự cương nghị, bền bỉ của một người lính từng đi qua những năm tháng bom đạn dữ dội nhất của cuộc chiến.
Trước khi nhập ngũ thời thanh niên ông Nguyễn Đức Về còn là học sinh cấp 2 học lớp 8 tại Trường cấp 3 Việt Vinh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (cũ). Những năm 1968 khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, ông Nguyễn Đức Về rời quê hương, hăng hái lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Giống như bao người lính trẻ khi ấy, ông mang theo hành trang là niềm tin vững chắc vào ngày độc lập, và trái tim cháy bỏng của tuổi mười tám đôi mươi dành trọn cho non sông.
Ông nhập ngũ tại Tiểu đoàn tỉnh Lâm Đồng thuộc Binh đoàn Trường sơn và huấn luyện tại Tỉnh Bắc Thái. Trong thời gian dài huấn luyện xong, ông được di chuyển vào Nam và đóng quân tại Miền Đông Nam bộ Đơn vị CTB 31, 32.
Đầu năm 1973, đơn vị của ông được điều động vào chiến trường Tây Ninh, nơi những trận đánh diễn ra ác liệt suốt ngày đêm. Đồi núi, rừng già và những cung đường đầy bom mìn trở thành nơi thử thách ý chí và sức chịu đựng của người lính Cụ Hồ. Trong những tháng ngày ấy, ông Về cùng đồng đội kề vai sát cánh, san sẻ từng ngụm nước, từng nắm cơm, cùng nhau vượt qua hiểm nguy cận kề cái chết.
Trong một trận đánh lớn ở Tây Ninh, ông Về bị thương nặng khiến ông gục xuống giữa chiến trường nóng bỏng khói lửa. Đạn bom vẫn nổ dồn dập xung quanh, nhưng đồng đội đã không quản hiểm nguy, dìu ông ra khỏi vùng chiến sự để đưa về tuyến sau.
Những ngày nằm điều trị, cơn đau như muốn xé toạc thân thể, nhưng với ông, đau đớn nhất vẫn là cảm giác chưa thể tiếp tục cùng đồng đội tiến lên tuyến đầu. Ông không nhớ nổi bao nhiêu lần trong đêm mình tỉnh dậy giữa mồ hôi và nước mắt, nhưng trong tâm trí ông, ý chí trở lại chiến trường chưa bao giờ tắt.
Hòa bình năm 1975 Ông được tập kết ra bắc điều dưỡng sức khỏe. Nhờ sự tận tình của Bác sĩ, cùng nghị lực phi thường của một người lính, sức khỏe ông dần hồi phục. Và khi có thể đứng dậy. Tháng 01/1977 ông được ra quân về địa phương, do yêu cầu nhiệm vụ cấp bách đến đầu năm 1978 được Đảng gọi lên đường tiếp tục tham gia công tác trực tiếp phụ trách xã biên giới. Ông Nguyễn Đức Về vẫn bền bỉ tham gia công tác và chiến đấu, dù cơ thể mang thương tích nặng. Vết thương cũ mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức, nhưng ông chưa bao giờ để sự đau đớn ấy ngăn bước chân mình.
Khi đất nước bước vào giai đoạn chiến tranh biên giới, ông lại cùng đồng đội canh giữ những phên dậu của Tổ quốc. Đó là những năm tháng mới đầy gian nan, nhưng với ông, bảo vệ từng tấc đất của quê hương là bổn phận thiêng liêng mà bất kỳ người lính nào cũng sẵn sàng nhận lấy.
Sau khi chiến tranh biên giới ổn định do sức khỏe của ông còn ảnh hưởng vết thương không đảm bảo đến năm 1991, sau nhiều năm cống hiến không ngừng nghỉ, vết thương cũ và sức khỏe suy giảm khiến ông không thể tiếp tục công tác. Đảng và Nhà nước quyết định cho ông nghỉ hưu theo chế độ. Quyết định đó vừa là sự ghi nhận đối với những đóng góp thầm lặng của ông, vừa là dấu mốc khép lại một chặng đường dài mà ông đã dành trọn cho quân đội và Tổ quốc.
Trở về quê hương, ông Về bắt đầu cuộc sống bình dị tại thôn Minh Thượng, xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (cũ). Những ngày đầu, sự trống trải khiến ông không khỏi bồi hồi – từ một người lính quen với tiếng súng, bước vào cuộc sống yên bình là điều không dễ dàng. Thỉnh thoảng, những cơn đau từ vết thương năm xưa lại nhói lên, nhắc ông nhớ về quãng thời gian chiến trường đầy khói lửa.
Thế nhưng, bằng sự kiên cường vốn có, ông dần thích nghi, nuôi dạy con cái, chăm lo cho gia đình, cùng bà con thôn xóm xây dựng cuộc sống mới. Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ông luôn chấp hành tốt mọi chủ chương đường lối của Đảng pháp luật của Nhà nước. Mỗi dịp họp mặt cựu chiến binh, thầy trò nhà trường chúng tôi đến chi ân, thăm hỏi nhân dịp ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 và ngày Thương binh liệt sỹ 27/7 hàng năm, ông lại kể cho thế hệ sau nghe về những tháng ngày gian khổ, về đồng đội đã nằm lại nơi đồi núi Tây Ninh, về lý tưởng đã nâng bước cả một thế hệ ra trận.
Giờ đây, ở tuổi gần tám mươi, ông Nguyễn Đức Về sống giản dị và thanh thản giữa tình làng nghĩa xóm. Nhưng trong câu chuyện của ông, trong từng ánh nhìn lặng lẽ mỗi lúc hoàng hôn buông xuống, chúng tôi vẫn cảm nhận rõ ràng ngọn lửa của một thời tuổi trẻ đã hiến dâng cho đất nước.
Ông là biểu tượng đẹp của một thế hệ người lính đã đi qua chiến tranh bằng sự gan dạ, lòng trung kiên và đức hy sinh. Cuộc đời ông – từ chàng trai năm nào bước vào lửa đạn, đến người lính thương binh nặng kiên cường, rồi trở về đời thường trong bình yên – chính là bản hùng ca lặng lẽ nhưng rực rỡ.
Thầy và trò Trường Tiểu học Minh Lập xin được gửi lời tri ân sâu sắc tới các chú bộ đội, tới ông Nguyễn Đức Về– những người lính Cụ Hồ đã hy sinh xương máu cho Tổ quốc, trong đó có những chú thương binh đã chịu nhiều mất mát nhưng vẫn giữ vững tinh thần kiên cường, lạc quan.
Những câu chuyện đời thực của các anh hùng thương binh là bài học vô giá, góp phần rèn luyện cho học sinh Trường Tiểu học Minh Lập những đức tính tốt đẹp:
Lòng biết ơn – Tinh thần vượt khó – Ý chí kiên cường – Tinh thần trách nhiệm – Tình yêu quê hương đất nước.
Hình ảnh Đội viên chăm sóc gia đình thương binh ông Nguyễn Đức Về
Thầy và trò Nhà trường xin hứa sẽ luôn cố gắng học tập, rèn luyện, sống xứng đáng với thế hệ cha anh đi trước. Xin kính chúc ông Nguyễn Đức Về luôn mạnh khỏe, bình an và tiếp tục là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.
“Một thời hoa lửa” không chỉ là câu chuyện của một con người, mà còn là ký ức chung của cả một dân tộc. Ký ức về những người đã sẵn sàng đem tuổi xuân đặt lên vai Tổ quốc, để hôm nay chúng ta được sống giữa hòa bình.



