Bài viết

Hồi ức về trận chiến Điện Biên Phủ oanh liệt qua lời kể của ông nội

Tôi sinh ra trong hòa bình, chưa bao giờ trực tiếp trải qua những khó khăn của dân tộc. Đến khi nghe ông nội và những người bạn cũ của ông kể lại những ký ức về trận Điện Biên Phủ, tôi mới thật sự cảm nhận được nỗi đau và sự hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước.

Hà Tĩnh24/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi ra trận, những người lính chỉ được cấp cho hai bộ quần áo, một đôi dép lốp và một ít gạo. Họ lên đường với khẩu hiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ai có súng thì dùng súng, ai có gươm thì dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc.” Ông nội tôi lúc đó đang học ở Bắc Giang, còn hai người bạn của ông làm nông, nhưng khi lên đường, tất cả đều hướng về Việt Bắc, với quyết tâm giành lại Điện Biên Phủ, Mường Thanh.

Đây là trận đánh đầu tiên quân ta có sự tham gia của pháo binh, điều này càng làm tăng thêm niềm tin và tinh thần chiến đấu của nhân dân. Kẻ thù là thực dân Pháp, một trong những cường quốc hàng đầu thế kỷ XX, chiếm đóng Điện Biên Phủ với ba trăm tiểu đội và vũ khí hiện đại. Máy bay tiếp viện liên tục biến nơi này thành một pháo đài bất khả xâm phạm. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sau mười hai đêm không ngủ, đã quyết định thay đổi chiến lược, không còn “đánh nhanh thắng nhanh” mà phải đánh chắc thắng chắc. Nếu không có sự thay đổi này, có thể ông tôi và nhiều chiến sĩ khác đã không thể trở về và góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Với chiến lược “đánh chắc thắng chắc”, chúng ta có hơn một tháng chuẩn bị, vận chuyển pháo binh lên trận địa. Mỗi khẩu pháo nặng hơn hai tấn phải tháo rời, qua sông Hồng rồi lắp ráp lại. Đoạn đường này dài đến bốn trăm cây số, qua đèo cao, suối sâu, gian nan nhưng không nguy hiểm bằng ba mươi cây số vào trận địa. Các chiến sĩ kéo pháo bằng tay, hoàn toàn dựa vào sức người và sự đồng lòng để vượt qua khó khăn, đặt pháo lên các cao điểm, gây bất ngờ lớn cho địch.

Ông nội tôi, khi đó ở sư đoàn 308, nhận lệnh hành quân đến Luông Pha Băng, khiến Navarre phải điều quân nhảy dù xuống Bắc Lào. Các sư đoàn khác cũng hành quân khiến quân Pháp tưởng ta rút khỏi Điện Biên và từ bỏ ý định giành lại nơi đây. Sau hai tháng chuẩn bị thêm, sư đoàn của ông tôi bí mật quay lại Điện Biên Phủ, đúng lúc địch yên tâm rằng pháo đài của họ bất khả xâm phạm. Ngày 12 tháng 3 năm 1954, Navarre thông báo cuộc tiến công của ta đã thất bại. Nhưng vào lúc 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954, cuộc tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ chính thức bắt đầu.

Cứ điểm Him Lam bị tiêu diệt hoàn toàn trong đêm. Sự bất ngờ đó không còn quan trọng khi ta tấn công đồi Độc Lập đêm sau đó. Trong trận đánh đồi Độc Lập, hai đồng đội của ông tôi, dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Đào Đình Sử, mở đường qua mười lăm lớp rào dây thép gai dày 80m. Trận chiến diễn ra quyết liệt từ những phút đầu. Địa pháo đầu tiên nổ, pháo ở Mường Thanh bắn tới tấp, súng bắn thẳng và súng cối từ trong đồn tập trung vào cửa hầm. Đại đội vừa tiến công, vừa thu nhặt bom của đồng đội. Khi còi hiệu lệnh vang lên, chỉ còn bảy người trong đại đội, hơn trăm chiến sĩ đã hy sinh. Nghe các ông kể lại, tôi không khỏi xúc động. Mỗi trận đánh, sự hy sinh là điều không thể tránh khỏi, nhưng mỗi người nằm xuống đều là một hiệu lệnh tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội chiến đấu kiên cường hơn.

Trong năm mươi lăm ngày đêm trận Điện Biên Phủ, chúng ta chỉ có hai mươi tư khẩu pháo, còn địch có sáu mươi khẩu. Điều này yêu cầu quân đội ta phải có chiến lược khôn khéo, bố trí trận địa hiểm hóc. Nhờ vậy, ta đã bắn hơn hai trăm quả pháo, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ mà chỉ hỏng một chiếc càng pháo. Sau hai ngày không thể bịt miệng pháo binh của ta, trung tá Pierre, chỉ huy pháo binh của Pháp, đã phải tự sát.

Khi nghe các chiến sĩ tham chiến kể lại trận Điện Biên Phủ đầy cam go và hy sinh, tôi mới hiểu vì sao sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại làm cả dân tộc đau đớn đến vậy. Nghĩ về thời kỳ oanh liệt của cha ông, tôi càng tự hào khi là cháu của một người lính bộ đội Cụ Hồ. Hình ảnh những người lính năm xưa, mặc quân phục chỉnh tề, mắt đỏ hoe, tay nắm chặt nhau dâng hương cho Đại tướng sẽ mãi khắc sâu trong tâm trí tôi. Cùng các ông đưa tiễn Đại tướng, lòng tôi chưa bao giờ khát khao làm những điều ý nghĩa như vậy hơn bao giờ hết.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn