Cựu chiến binh

HỒN GỐM TRONG LỬA, SẮC THỔ CẨM TRÊN KHUNG DỆT – KHÚC TRÁNG CA HỒI SINH LÀNG NGHỀ CHĂM NINH PHƯỚC (1996 – 2000) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN

Khánh Hòa30/09/2026Phạm Thanh Mân ((NT) Xã Ninh Phước)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của người cán bộ cách mạng Trần Thanh Sơn, đi qua những năm tháng tuổi trẻ cầm súng bảo vệ biên cương Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế, khi trở về gắn bó với mảnh đất quê hương Ninh Phước, tôi luôn nhìn thấy sự hòa quyện kỳ diệu giữa ý chí kiên cường thời chiến và sức sống dẻo dai trong thời bình của đồng bào mình.

Cuối những năm 1990, khi huyện Ninh Phước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các công trình thủy lợi, trạm bơm điện mọc lên làm thay đổi từng chân ruộng. Nhưng giữa nhịp sống công nghiệp đang hối hả, một trăn trở lớn đặt ra cho cấp ủy và chính quyền: Làm sao để hiện đại hóa mà không đánh mất bản sắc? Làm sao để những đôi bàn tay tài hoa của người Chăm không bỏ rơi khung cửi, bàn xoay?

Câu trả lời nằm ở quyết tâm sắt đá của Đảng bộ huyện: Bảo tồn văn hóa chính là bảo tồn cội nguồn sức mạnh; khôi phục làng nghề truyền thống chính là chìa khóa mở đường cho kinh tế hộ gia đình phát triển bền vững.

1. Dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp & Chung Mỹ: Dệt nên sắc màu ấm no

Palei Mỹ Nghiệp (Caflang) và Chung Mỹ từ bao đời nay vốn nổi danh với nghề dệt vải thổ cẩm thủ công. Nhưng sau những năm tháng chiến tranh và thời kỳ đầu bao cấp khó khăn, nguồn sợi khan hiếm, đầu ra bấp bênh khiến nhiều khung cửi phải nằm im lìm trong góc tối:

  • Chủ trương tiếp sức của huyện:

  • Giai đoạn 1996 – 2000, thực hiện chủ trương khôi phục ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, huyện Ninh Phước đã hỗ trợ vốn vay ưu đãi, kết nối nguồn nguyên liệu sợi bông, phẩm màu tự nhiên và tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các hộ dệt.

  • Các nghệ nhân lớn tuổi tại Mỹ Nghiệp và Chung Mỹ được tôn vinh, động viên mở lớp truyền nghề ngay tại nhà cho con em thanh niên, giữ lại từng mô típ hoa văn cổ: rồng trời, hoa văn kỷ hà, mắt chim công, vân mây...

  • Tiếng lách cách rộn rã trở lại buôn làng:

    • Đến năm 2000, một bức tranh khởi sắc đã hiện hữu: toàn huyện đã có 98 hộ gia đình chuyên tâm làm nghề dệt thổ cẩm với hàng trăm lao động lành nghề.

  • Sản phẩm không chỉ bó hẹp trong những tấm xà-rông, khăn đội đầu truyền thống phục vụ lễ hội Katê, Ramưwan mà được đa dạng hóa thành túi xách, bóp ví, tranh treo tường, cà vạt, áo khoác thổ cẩm cung cấp cho khách du lịch trong và ngoài nước.

  • Tổng doanh thu từ nghề dệt thổ cẩm năm 2000 đạt tới 3.200 triệu đồng (3,2 tỷ đồng) – một con số mang ý nghĩa kinh tế rất lớn vào thời điểm bấy giờ, minh chứng cho sự hồi sinh mạnh mẽ của một nghề cổ truyền.

  • 2. Làng gốm Bàu Trúc: Kỳ tích từ đất sét và ngọn lửa lộ thiên

    Cùng với thổ cẩm Mỹ Nghiệp, làng gốm Bàu Trúc (Paley Hamu Craok) chính là "viên ngọc quý" của di sản văn hóa Chăm. Đây là làng gốm cổ xưa bậc nhất Đông Nam Á, nơi người phụ nữ Chăm làm gốm bằng một phương thức độc nhất vô nhị: tay làm, chân quay, đi thụt lùi quanh khối đất mà không hề dùng đến bàn xoay cơ học:

    • Vượt qua cơn lốc đồ nhựa và nhôm kính:

    • Những năm cuối thập niên 90, đồ gia dụng bằng nhựa, nhôm, inox công nghiệp tràn ngập thị trường với giá rẻ, khiến các sản phẩm chum, vại, lu, nồi đất nung truyền thống của Bàu Trúc đứng trước nguy cơ bị đào thải khốc liệt.

  • Đảng bộ và chính quyền huyện đã kịp thời định hướng: Phải chuyển hướng sản phẩm gốm từ vật dụng sinh hoạt thuần túy sang đồ gốm mỹ nghệ, gốm trang trí và phục vụ du lịch.

  • Bám trụ ngọn lửa thiêng:

    • Nhờ sự định hướng đúng đắn và chính sách trợ lực thiết thực, các gia đình nghệ nhân đã kiên cường giữ nghề. Đến năm 2000, làng Bàu Trúc đã có 164 hộ gia đình vững vàng bám trụ và sống được bằng nghề gốm.

  • Từng mảng đất sét mịn lấy từ triền sông Quao hòa cùng cát mịn được nhào nặn qua đôi bàn tay khéo léo của người mẹ, người chị Chăm. Những đống củi, rơm rạ chất cao giữa sân lộ thiên đỏ rực lửa nung mỗi độ cuối tuần đã trở thành biểu tượng sống động cho sức sống bất diệt của văn hóa bản địa.

  • Sản phẩm gốm Bàu Trúc giai đoạn này bắt đầu hiện diện tại các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, hội chợ triển lãm lớn trong cả nước, khẳng định giá trị mỹ thuật thủ công độc bản không nơi nào sánh được.

  • Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA NỘI SINH

    Chiêm nghiệm lại bước chuyển mình của các làng nghề truyền thống Ninh Phước giai đoạn 1996 – 2000, đồng chí Trần Thanh Sơn luôn khẳng định:

    Đó là bản hòa ca tuyệt đẹp giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di sản dân tộc:

    1. Văn hóa trở thành động lực kinh tế: 98 hộ dệt đạt doanh thu 3,2 tỷ đồng và 164 hộ gốm bám nghề năm 2000 đã chứng minh: bảo tồn không phải là cất giữ trong tủ kính bảo tàng, mà phải làm cho di sản "sống" được trong lòng nền kinh tế thị trường, mang lại chén cơm, manh áo no ấm thực sự cho đồng bào.

  • Khẳng định bản lĩnh và tâm hồn người Chăm: Giữa làn sóng công nghiệp hóa ào ạt của thời kỳ mở cửa, người Chăm Ninh Phước vẫn tự hào ngồi bên khung dệt, vẫn nâng niu từng hòn đất sét nung đỏ. Đó chính là cội nguồn của lòng tự tôn dân tộc, thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết gắn bó keo sơn trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam trên quê hương Ninh Phước anh hùng.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    HỒN GỐM TRONG LỬA, SẮC THỔ CẨM TRÊN KHUNG DỆT – KHÚC TRÁNG CA HỒI SINH LÀNG NGHỀ CHĂM NINH PHƯỚC (1996 – 2000) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN | Câu chuyện thời hoa lửa