Anh hùng Lực lượng vũ trang

Hồn Về Sầm Nứa Chẳng Về Xuôi: Khúc Bi Tráng Của Người Thủ Lĩnh Tây Tiến Nguyễn Như Trang

Bài viết là một bản anh hùng ca đẫm chất thơ và máu, tái hiện cuộc đời lẫm liệt của người chiến sĩ trí thức Nguyễn Như Trang. Rũ bỏ áo thư sinh, anh lao vào lửa đạn từ những chiến lũy bảo vệ Hà Nội mùa đông năm 1946, rồi trở thành một tượng đài bất khuất giữa đại ngàn Tây Bắc hùng vĩ. Tiếng hát át tiếng bom, anh vừa là người nghệ sĩ viết nên những khúc quân hành rực lửa, vừa là người dũng tướng lấy thân mình chắn giặc, đơn độc chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo toàn lực lượng, để lại một hu

Quảng Trị06/06/2026Chi đoàn 11 Anh 2 (Đoàn phường Đồng Hới)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi...". Những vần thơ rỏ máu của núi rừng sương lạnh ấy tựa như khúc vĩ thanh viết riêng cho cuộc đời lẫm liệt của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Liệt sĩ Nguyễn Như Trang. Mang trong mình cốt cách hào hoa của một người trí thức, anh đã tạc vào lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam một hình mẫu chiến binh vĩ đại: Tay gươm, tay đàn, sống hiên ngang và ngã xuống như một vị thần.

Từ Cậu Thư Sinh Đất Tổ Đến Chiến Lũy Quyết Tử Hà Thành

Sinh năm 1927 tại Cao Xá, Lâm Thao, Phú Thọ – vùng đất cội nguồn của dân tộc, Nguyễn Như Trang mang trong mình dòng máu của cụ thủy tổ Thám hoa Nguyễn Như Thức và cốt cách thi nhân từ người cha là cụ giáo Nguyễn Như Hoàn. Trưởng thành dưới mái trường Thăng Long danh giá, được thắp lửa từ những bài giảng của Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, lòng yêu nước trong anh đã cuộn trào thành bão táp. Mùa thu lịch sử năm 1945, người trí thức trẻ gác lại bút nghiên, rũ bỏ áo thư sinh để khoác lên mình chiến bào Vệ quốc đoàn.

Mùa đông năm 1946, Hà Nội rực lửa súng gươm. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, Trung đội trưởng Nguyễn Như Trang đã thề lời thề "Quyết tử". Từ chiến lũy Stai Quai, ngã ba Lò Đúc, đến những ụ đất trộn lẫn đường cát, bùn lầy và máu ở Ô Cầu Dền, anh cùng đồng đội chốt chặn từng tấc đất. Lửa đạn Hà thành đã hun đúc vị thủ lĩnh trẻ thành một Đại đội trưởng xuất sắc của Tiểu đoàn 212. Khi súng đạn quân thù gầm rít, xe tăng giặc khựng lại trước chiến lũy Hòa Mã, anh cùng các chiến binh đã hiên ngang cầm cự, chặn đứng bước tiến của kẻ thù. Để rồi, khi Tổ quốc vẫy gọi nơi miền biên ải, bỏ lại sau lưng Hà Nội mến thương, anh bước vào một cuộc trường chinh mới: "Tây Tiến!"

Tiếng Cồng Quân Y Và Lưỡi Gươm Phá Bốt

Tiến về miền Tây, núi cao vực sâu, rừng thiêng nước độc. Từ Xuân Mai, ngược sông Mã tiến chiếm Mường Lát, dải đất Thượng Lào đã in hằn gót giày của Tiểu đoàn 150 thuộc Trung đoàn 52 Tây Tiến. Cuối năm 1947, mang trên mình thương tích, nằm giữa trạm xá rừng sâu, trái tim người lính Nguyễn Như Trang như rỉ máu khi chứng kiến những đồng đội thanh xuân gục ngã vì sốt rét ác tính. Từ tận cùng nỗi đau, khúc ca "Tiếng cồng quân y" ra đời như một tiếng nấc nghẹn ngào: "Nơi quân y đã bao lần tiếng cồng rền rĩ / Tơi tai người chiến sĩ hùng dũng xưa kia".

Không để nỗi bi thương nhấn chìm ý chí, ngòi bút của anh lại hóa thành nhát kiếm vút cao với "Trấn biên cương", thổi bùng nhuệ khí đoàn quân: "Đoàn quân lên trấn biên cương hào hùng... Đem chiến công về vinh quang mà danh vang ghi". Không chỉ có thi ca, người Tiểu đoàn phó Nguyễn Như Trang còn vung gươm dẹp tan những thế lực phản động. Dưới sự thống lĩnh của anh, các trận đánh kinh hồn tại Mè - Lặt (Lương Sơn), đồn Mai Hạ, Mường Lò liên tiếp nổ ra. Quân ta đè bẹp mưu đồ lập "Xứ Mường tự trị", đập nát tờ báo tay sai "Sao Trắng", biến phòng tuyến sông Đà của giặc Pháp thành cát bụi.

Trận Huyết Chiến Ở Làng Mu Và Khúc Tráng Ca Bất Tử

Ngày 19 tháng 11 năm 1948, một trang sử đẫm máu và bi tráng bậc nhất của binh đoàn Tây Tiến đã được viết nên tại thôn Mu (Ngọc Lâu, Lạc Sơn, Hòa Bình). Trong chuyến trinh sát chuẩn bị nhổ đồn địch, đoàn của Tiểu đoàn phó Nguyễn Như Trang sa vào vòng phục kích dầy đặc của quân thù với tương quan lực lượng một chọi mười. Giữa địa hình trống trải, lưỡi hái tử thần cận kề, phẩm chất của một người thủ lĩnh vĩ đại đã bừng sáng.

Anh thét lệnh cho toàn bộ chiến sĩ phá vây rút lui để bảo toàn lực lượng, tự biến mình thành tấm bia hứng chịu toàn bộ hỏa lực. Người đồng đội Đại đội trưởng cuối cùng kề vai sát cánh vừa gục ngã, chỉ còn lại một thân một mình giữa vòng vây đặc nghẹt lính Âu - Phi, anh vẫn nghiến răng chiến đấu. Mười tên giặc bỏ mạng dưới nòng súng của anh trước khi vị dũng tướng trẻ tuổi kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng. Khí phách lẫm liệt của anh đã khiến bầu trời ngả mũ. Đứng trước thi thể nhuốm máu của anh, viên trung úy Pháp đã phải thốt lên lời cúi đầu thán phục. Càng rúng động hơn, sự hy sinh lẫm liệt ấy đã đánh gục tâm trí của Grand Wath – một lính lê dương Âu - Phi, khiến người này đào ngũ chạy sang hàng ngũ bộ đội Cụ Hồ.

"Áo bào thay chiếu anh về đất". Thi hài anh được những người dân Mường như ông Bùi Mun ôm vào lòng đất mẹ. Mãi đến năm 1957, giọt nước mắt người mẹ hiền từ Phú Thọ mới tìm được nắm xương tàn của đứa con trai, đưa anh về an nghỉ tại nghĩa trang Mai Dịch cùng muôn ngàn anh linh Thủ đô.

Đại ngàn Tây Bắc đã khắc tên anh. Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân được truy tặng năm 2014, cùng những pho tượng đồng sừng sững tại vùng đất Tự Do (Hòa Bình) và Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, đã tạc vĩnh viễn hình bóng Nguyễn Như Trang vào dòng chảy bất tử của dân tộc. Anh đã sống, chiến đấu và ngã xuống như một bản giao hưởng hào hùng nhất của thế hệ thanh niên trí thức Việt Nam một thời máu lửa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn