Hồng Ly Biệt
[Có những đóa hồng trắng sống một cuộc đời rực rỡ, thanh cao biết bao, sắc có hương có. Khi thảy vào lửa, hồng cũng chỉ còn tro. Ai biết trong chính đống lửa, hồng vùng vẫy, cố gắng nhường nào. Để lại tàn cuộc một hương thoang thoảng, chẳng phải phấn, cũng không là hoa. Chỉ mùi tro khét, nào lại có bao người vương vấn hương cháy hồng ban…] Trong khói lửa chiến trận, giữa sự đoàn kết đáng nể phục của nhân dân hay các câu chuyện về tình đồng chí sâu sắc, còn có những cuộc tình được chôn giấu giữa ranh giới sinh tử nước nhà. Một trong số đó là câu chuyện của hai nhân vật lịch sử nổi tiếng – ông Lê Hồng Phong và bà Nguyễn Thị Minh Khai, được khắc họa như một tình yêu son sắt giữa bão tố cách mạng, đầy xúc động nhưng cũng ngập tràn bi thương và day dứt.
Lần đầu gặp gỡ tại thành phố Thượng Hải năm 1933, lúc bấy giờ, Nguyễn Thị Minh Khai vừa được thả tự do khỏi nhà tù mật thám và công tác tại Ban chỉ huy hải ngoại thuộc Đảng, cũng là nơi Lê Hồng Phong đang làm thư kí. Cùng nơi chôn rau cắt rốn Nghệ An, chung một chí hướng giành lại độc lập cho mảnh đất hình chữ S, hai người đã nên duyên vợ chồng ngay tại đất Thượng Hải vào 1934. Lễ cưới tại đất khách hôm ấy không hoa mỹ cũng chẳng cầu kì, bữa cơm chỉ giản dị vài đĩa lạc rang cùng những chiếc kẹo bọc giấy nhám màu và vài điếu thuốc lá đơn điệu. Nhưng cũng chính nơi đây đã mang theo hẹn ước giữa ông bà, có thể hôm ấy chẳng có bạc vàng gì, nhưng lưu giữ hơn hết là nghĩa vợ chồng và lời thể sắt son vững bước trên con đường đi đến độc lập dẫu nhiều chông gai. Những con người cách mạng cũng đã từng có ngày tháng bên nhau hạnh phúc nhường nào. Ngày tháng còn ở Mát – xcơ – va là khoảng thời gian đẹp đẽ tràn đầy kỉ niệm của Hồng Phong và Minh Khai. Dưới nắng chiều thủ đô đã từng có hai con người cùng nhau băng qua khắp các con ngõ ngược xuôi, ánh nắng soi rọi trên mỗi bước chân họ đến, hay đã từng có những câu chuyện lặng lẽ cất giấu trong lớp tuyết dày đặc Mát – xcơ – va năm ấy chôn vùi.
Nào lũ quân giặc làm gì cho ai có quyền hạnh phúc ngoài chúng chứ! Tháng 2/ 1937, Nguyễn Thị Minh Khai nhận lệnh quay về Sài Gòn lãnh đạo phong trào cách mạng Chợ Lớn. Cùng năm này vào tháng 11, Lê Hồng Phong cũng quay về thành phố chỉ huy chiến trận. Cùng một mảnh đất chẳng khó khăn gì về khoảng cách gặp gỡ, nhưng hai người buộc gác lại và phải xa nhau nhằm đảm bảo nguyên tắc hoạt động bí mật. Trong suốt khoảng thời gian đó, ông bà buộc phải bươn chải đủ điều tại nơi quê hương đất mẹ hòng che mắt kẻ thù. Sài Gòn – Gia Định những năm tháng chiến tranh từng có cặp “vợ chồng cô Năm” bôn ba ngược xuôi lo việc nước, chuyện nhà đầy gian nan.
Giai đoạn đầu năm 1939, công việc ngày một chồng chất. Bà Nguyễn Thị Minh Khai đương thời giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, đồng thời mang theo một sinh linh nhỏ bên mình. Lúc bấy giờ, cả bà và Lê Hồng Phong đều đang giữ vai trò chủ chốt trong chính trị Đảng. Vừa gánh vác trọng trách to lớn đầy khó khăn, vừa phải cố gắng hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm người mẹ, bà Nguyễn Thị Minh Khai vẫn vượt qua 9 tháng 10 ngày đầy gian nan và hạ sinh đứa con đầu lòng Lê Nguyễn Hồng Minh. Nhưng tiếc thương rằng ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, số phận đã đưa Hồng Minh rời xa cha mẹ. Để bảo vệ con gái trước nanh vuốt hung tàn của lũ thực dân, Nguyễn Thị Minh Khai đành gửi Hồng Minh cho người dân và cơ sở cách mạng nuôi nấng. Cũng vào thời gian này, Lê Hồng Phong bị mật thám Pháp bắt và giam tù với tội danh sử dụng căn cước, giấy tờ giả.
Sau khi ra tù, ông bị trục xuất về quê nhà và quản thúc nghiêm ngặt. Không gì có thể làm nhục chí người yêu nước, Phong vẫn duy trì viết báo, âm thầm theo dõi và chiến đấu cho mặt trận tổ quốc. Dưới ngòi bút đanh thép của mình, Lê Hồng Phong bí mật khắc nên lý luận đả đảo lũ cướp nước và chỉ đạo phong trào quyết liệt. Chỉ vỏn vẹn dăm tháng gặp lại quê hương, tháng 1/1940, ông một lần nữa bị giặc Pháp bắt và giam tại Khám Lớn Sài Gòn.
Tháng 7/1940, thực dân Pháp biết Nguyễn Thị Minh Khai là đầu não chiến trận, sau khi bà dự hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ, chúng bao vây bất ngờ và đột kích địa điểm và được đưa đến bốt Catinat. Chính địa ngục trần gian bốt Catinat và Khám Lớn Sài Gòn ấy đã có những đòn roi tra tấn khốc liệt bụng đói qua ngày, hoặc cùng lắm là những tô canh thừa cơm cặn của lũ thực dân hay ổ bánh mì mốc nát. Có những ngày dòng điện tê tái chạy qua cơ thể, thậm chí là đóng đinh sắt rỉ vào đầu mười ngón tay. Nhưng cũng chính nơi đây đã ghi lại lòng bất khuất trung kiên không những của Nguyễn Thị Minh Khai hay Lê Hồng Phong mà còn là các tù nhân cách mạng. Chính trong địa ngục tăm tối đã nảy mầm nên những giá trị sắc sâu, đã có những dòng thơ khắc vào tường bằng dòng máu đỏ tươi và lời vang vọng vạch trần tội ác thâm độc sau mỗi lần ngất xỉu chết đi sống lại.
Biết rằng đòn roi không thể làm nhục chí người quyết tâm đi trên con đường cách mạng, khoảng cuối 1940, chúng đưa bà về Khám Lớn Sài Gòn hòng để Minh Khai và Hồng Phong lộ phút yếu lòng giữa đôi vợ chồng dài ngày xa cách sau đó kết tội hai người.
Giây phút hai mắt chạm nhau, mặt đối mặt, sâu thẳm trong ánh mắt là tình yêu trìu mến đầy da diết, nhưng một khi đã bước trên con đường cách mạng, họ biết bản thân phải làm gì.
- Đây có phải vợ ông không ?
- Không, tôi không biết chị ấy!
Tên mật thám quay sang cùng ánh mắt thăm dò nhìn người phụ nữ, “ Còn chị, đó là chồng chị phải không? ”
- Tôi không quen người này.
Họ nhất quyết không thừa nhận. Đau à, có đau chứ, mỗi câu trả lời thốt ra là một nhát dao sâu rỉ máu xé nát ruột gan Hồng Phong và Minh Khai. Nhưng tâm can ép họ phải cất đi những giọt nước mắt, bởi nếu để lộ sơ hở thì nhân dân, chiến dịch và cả độc lập hai người hướng tới sẽ thế nào đây? Chính họ là những người nắm câu trả lời rõ nhất, thế nên Hồng Phong và Minh Khai mới phải lạnh lùng coi nhau như hai người dưng xa lạ.
Bất lực không tài nào kết tội Lê Hồng Phong, lũ thực dân đày ông ra nhà tù Côn Đảo vào cuối năm 1940. Còn về Nguyễn Thị Minh Khai, do không thể khuất phục bà bằng đòn roi, chúng đã tàn nhẫn kết án tử hình với tội danh chịu trách nhiệm tinh thần cho cuộc khởi nghĩa.
Những ngày cuối đời, Minh Khai đã tỉ mỉ đan gối từ những sợi chỉ mảnh cho mẹ già ở quê nhà cũng như những lời nhắn nhủ cho chồng con của mình. Tại pháp trường Bà Điểm, huyện Hóc Môn cùng các đồng chí đã kề vai sát cánh, Minh Khai vẫn giữ một tinh thần trung kiên sâu sắc với nước nhà dẫu trước nòng súng tàn ác của quân giặc. Trước ngày bước lên pháp trường xử bắn, bà vẫn giữ trọn lời thề sắt son với tổ quốc qua việc nhờ các đồng chí truyền lời đến chồng, “Dù có chết, em nhắn anh yêu hãy giữ vững chí khí cách mạng, trung thành với Đảng,..”
Không phụ lòng người vợ, Lê Hồng Phong vẫn cố gắng mở lớp lý luận chính trị ngay tronng song sắt dẫu bị áp dụng chế độ giam giữ tàn bạo tột cùng với Tổng Bí thư. Dài ngày bị biệt giam trong hầm đá, đánh đập bằng đòn roi dã man và bỏ đói khiến sức khỏe suy kiệt hoàn toàn, thân thể rách nát. Vào đúng năm sinh nhật tròn 40 tuổi của mình, hôm ấy không bánh kem cũng chẳng một món quà mà chỉ những trận đòn roi đau xé người. Sau trận đòn chí mạng của cai ngục ngày hôm ấy, đồng chí chấm dứt chuỗi ngày đau đớn và trút hơi thở cuối cùng. Trước khi nhắm mắt, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào một ngày cờ tổ quốc bay phấp phới, người dân có thể tung tăng hát ca không còn bị lũ Pháp, lũ Mỹ phiền hà nữa.
[ Hai con người của cách mạng sống một cuộc đời đầy tôn kính, thanh cao. Khi đặt vào khói lửa chiến tranh, họ vẫn luôn kiên cường chiến đấu quyết liệt. Rồi khi về với đất trời, họ vẫn luôn sống mãi ở đây, không phải cùng một hình tượng xa hoa của hương phấn. Mà là mùi tro khét của một hình tượng gai góc kiên cường và bất khuất. Rõ ràng chẳng là hương hoa nhẹ, nhưng vẫn sống mãi trong tim bao người đấy thôi. ]


