Hộp chỉ màu xanh của cô quân y Diễn Lâm
Nhân vật được xây dựng: Bà Trần Thị Lài, sinh năm 1948, quê Diễn Lâm cũ, nay thuộc xã Hùng Châu, tỉnh Nghệ An; nữ quân y làm nhiệm vụ trên tuyến Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ.
Bà Lài có một chiếc hộp sắt nhỏ, bên ngoài đã tróc gần hết lớp sơn màu xanh. Trong hộp không phải huân chương hay giấy tờ quan trọng, mà chỉ có mấy cuộn chỉ, vài chiếc cúc áo và một cây kim đã xỉn màu.
Bà bảo chiếc hộp ấy từng là “kho báu” của một trạm quân y giữa Trường Sơn.
Lài sinh năm 1948 tại Diễn Lâm. Mẹ làm ruộng, cha biết một ít thuốc Nam nên thường hái lá trong vườn giúp bà con chữa những bệnh thông thường. Từ nhỏ, Lài đã quen với mùi lá thuốc, quen việc đun nước và chăm người ốm.
Năm 1967, Lài tình nguyện vào lực lượng quân y. Trước lúc con lên đường, cha trao cho cô một cuốn sổ nhỏ, dặn người làm nghề chăm sóc phải biết quan sát, biết lắng nghe và trước hết phải làm cho người bệnh cảm thấy yên lòng.
Sau thời gian học tập, Lài được điều vào một trạm quân y trên tuyến Trường Sơn. Trạm nằm giữa rừng, mái lợp bằng lá, giường làm từ tre. Thuốc men và dụng cụ đều phải sử dụng tiết kiệm. Mỗi người đảm nhiệm nhiều việc: chăm sóc người bệnh, nấu ăn, giặt băng vải, lấy nước và giữ nơi ở sạch sẽ.
Ngày đầu đến trạm, Lài được một chị quân y đi trước trao cho chiếc hộp sắt màu xanh. Trong đó có kim, chỉ và cúc áo. Chị bảo quần áo lành lặn cũng giúp người bệnh thấy mình được chăm sóc tử tế. Từ đó, ngoài công việc chuyên môn, Lài còn vá áo cho những người nằm điều trị.
Có anh lính trẻ quê ngoài Bắc, chiếc áo bị rách ở vai sau một chặng hành quân dài. Lài ngồi dưới ánh đèn nhỏ, dùng chỉ xanh khâu lại. Đường chỉ đầu tiên chưa đều, cô phải tháo ra làm lại. Sáng hôm sau, anh lính nhận áo, cứ nhìn mãi miếng vá rồi cảm ơn. Lài cười, bảo áo còn chắc thì người mặc cũng phải cố khỏe.
Ở trạm quân y, không phải ngày nào cũng có những tình huống khẩn cấp. Nhiều hôm Lài chỉ đo nhiệt độ, chia thuốc, nấu cháo hoặc trò chuyện với những người nhớ nhà. Có người nằm im, ít nói; có người cứ hỏi đơn vị đã đi đến đâu. Lài học cách không hứa những điều mình không biết. Cô chỉ ngồi bên cạnh, kể chuyện cánh đồng Diễn Lâm, chuyện mùa lạc và những buổi chợ quê.
Một đêm mưa lớn, nước suối dâng nhanh, trạm phải chuyển một số vật dụng lên chỗ cao hơn. Mọi người kê lại giường, che thuốc và đưa người đang điều trị đến khu vực an toàn. Lài ôm chiếc hộp sắt trong túi áo, vừa đi vừa kiểm tra xem có ai bị bỏ lại phía sau hay không.
Khi ổn định xong, cô phát hiện một chiến sĩ trẻ đang lo lắng vì chiếc túi đựng thư nhà bị ướt. Lài cùng anh hong từng lá thư trên một tấm vải khô. Có trang mực đã nhòe, nhưng tên người gửi vẫn còn đọc được. Người chiến sĩ bảo mất quần áo có thể xin lại, chứ thư của mẹ thì không thể thay.
Từ hôm ấy, Lài dành một góc khô ráo trong trạm để mọi người cất thư và giấy tờ. Chiếc hộp chỉ của cô cũng được dùng đựng thêm vài lá thư chưa kịp gửi.
Trong số những người được chăm sóc tại trạm có anh Hùng, một chiến sĩ thông tin quê Thanh Hóa. Sau nhiều ngày điều trị, anh khỏe lại và chuẩn bị trở về đơn vị. Trước khi đi, anh xin Lài một đoạn chỉ xanh. Anh muốn buộc vào quai ba lô để nhớ trạm quân y giữa rừng.
Lài cắt cho anh một đoạn ngắn. Cô không ngờ việc ấy lại thành thói quen. Sau này, một số người rời trạm cũng xin một sợi chỉ xanh. Người buộc vào túi, người cất trong sổ. Cuộn chỉ nhỏ dần, nhưng những người khỏe lại thì nhiều lên.
Cuối năm 1972, trạm nhận được một chuyến hàng từ hậu phương, trong đó có thuốc, vải băng và vài cuộn chỉ mới. Lài mở thùng, thấy một cuộn chỉ màu xanh giống hệt cuộn cũ. Cô cầm lên, tự nhiên nhớ nhà. Cô hình dung mẹ đang ngồi vá áo bên cửa, cha đang phơi những nắm lá thuốc ngoài sân.
Lài viết thư về quê, kể rằng mình vẫn khỏe và công việc tuy vất vả nhưng có nhiều đồng đội cùng chia sẻ. Cô không kể những điều khiến cha mẹ lo. Cô chỉ xin mẹ nếu có thể thì gửi thêm vài chiếc cúc áo.
Mấy tháng sau, một gói nhỏ từ Diễn Lâm đến trạm. Trong gói có cúc áo, kim khâu, một chiếc khăn tay và mảnh giấy của mẹ. Mẹ viết rằng ở nhà ai cũng bình an, con cứ chăm người như chăm người thân của mình.
Bức thư ấy trở thành lời nhắc Lài mang theo suốt những năm ở Trường Sơn.
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Lài trở về quê, tiếp tục làm công tác y tế. Người dân trong vùng quen hình ảnh bà đeo túi thuốc, đi bộ đến từng nhà. Bà chăm trẻ nhỏ bị sốt, hướng dẫn các bà mẹ giữ vệ sinh và giúp người già dùng thuốc đúng cách.
Chiếc hộp màu xanh được đặt trong ngăn tủ. Mỗi lần mở hộp, bà lại nhớ những miếng vá trên áo, những lá thư được hong khô và những đoạn chỉ nhỏ đã theo người lính trở về đơn vị.
Bà nói với các cháu rằng nghề chăm sóc con người không chỉ cần kiến thức. Nó còn cần sự kiên nhẫn và lòng tử tế. Đôi khi một bát cháo ấm, một lá thư được giữ khô hay một chiếc áo được khâu lành cũng giúp người ta có thêm niềm tin.
Chiếc hộp sắt đã cũ, nhưng bên trong vẫn còn một cuộn chỉ xanh chưa dùng hết. Bà Lài giữ lại, như giữ một phần màu xanh của núi rừng Trường Sơn và tuổi trẻ của người con gái Diễn Lâm năm nào.



