“Hùm xám Bắc Sơn” giữa Chiến dịch Biên giới – từ căn cứ địa đến bước ngoặt của cuộc kháng chiến
Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950 là một bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Pháp. Với Chu Văn Tấn, đây là một dấu mốc đặc biệt: địa bàn Cao Bằng – Lạng Sơn – Bắc Sơn, nơi ông từng gây dựng lực lượng vũ trang từ những ngày đầu, nay trở thành chiến trường của một chiến dịch quy mô lớn. Nhưng vai trò của ông cần được nhìn cho chính xác: Chu Văn Tấn khi ấy là một lãnh đạo cấp cao của Liên khu Việt Bắc, góp phần tổ chức lực lượng và phối hợp chiến trường; ông không phải Chỉ huy trưởng toàn chiến dịch hay người trực tiếp chỉ huy trận Đông Khê.
Thời kỳ: Thu – Đông năm 1950.
1. Trở lại vùng đất đã làm nên một người chỉ huy
Có những vùng đất không chỉ nằm trên bản đồ.
Với Chu Văn Tấn, Bắc Sơn – Võ Nhai là một vùng đất như thế.
Năm 1941, từ những khu rừng phía Bắc, ông tham gia xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đội du kích Bắc Sơn rồi Cứu quốc quân đã trở thành những bước đầu của quá trình hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.
Gần mười năm sau, chiến tranh đã thay đổi.
Những người từng cầm súng trong rừng Bắc Sơn giờ đã có những trung đoàn, đại đoàn.
Còn Chu Văn Tấn đã trở thành một trong những vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1949, Liên khu 1 và Liên khu 10 được hợp nhất thành Liên khu Việt Bắc. Chu Văn Tấn tiếp tục giữ những trọng trách quan trọng tại đây. Bộ Quốc phòng ghi nhận lực lượng Liên khu Việt Bắc ngày càng phát triển, từ các đơn vị du kích lên những đơn vị tác chiến tập trung quy mô lớn.
Rồi mùa Thu năm 1950 đến.
Cao Bằng và Lạng Sơn – vùng đất mà ông từng biết từng con đường, từng dãy núi – trở thành hướng tiến công chủ yếu của một chiến dịch có ý nghĩa chiến lược.
Ảnh tư liệu: Thiếu tướng Chu Văn Tấn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Nguồn: Tư liệu Báo Quân đội nhân dân về Chu Văn Tấn; ảnh dùng để nhận diện nhân vật, không phải ảnh trực tiếp tại một trận đánh trong Chiến dịch Biên giới.
2. Vì sao phải mở Chiến dịch Biên giới?
Đến năm 1950, quân Pháp tìm cách củng cố thế bao vây Việt Bắc.
Trên tuyến đường số 4, từ Cao Bằng qua Đông Khê, Thất Khê xuống Lạng Sơn, quân Pháp xây dựng một hệ thống cứ điểm nhằm kiểm soát vùng biên giới.
Điều đó khiến Việt Bắc bị cô lập hơn.
Trong khi đó, cuộc kháng chiến cần phá thế bao vây, mở rộng căn cứ địa và khai thông đường liên lạc với Trung Quốc cùng các nước xã hội chủ nghĩa.
Tháng 6/1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch trên hướng biên giới.
Ngày 7/7/1950, Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh mở Chiến dịch Biên giới, mật danh Lê Hồng Phong II.
Mục tiêu gồm ba vấn đề lớn:
tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch – giải phóng một phần biên giới – mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.
Đây không phải một trận đánh đơn lẻ.
Đó là một chiến dịch mà phía Việt Nam phải huy động một khối lượng rất lớn về con người, vũ khí, lương thực và phương tiện.
Và trong nhiệm vụ ấy, Liên khu Việt Bắc giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Ảnh tư liệu: Bản đồ hướng tác chiến của Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950.
Nguồn: Tư liệu lịch sử về chiến dịch; bản đồ dùng để minh họa không gian tác chiến, không phải bản đồ cá nhân của Chu Văn Tấn.
3. Chu Văn Tấn không phải người chỉ huy trận Đông Khê
Đây là chi tiết cần nói rõ để câu chuyện không bị biến thành một huyền thoại sai lệch.
Khi Chiến dịch Biên giới được tổ chức, Võ Nguyên Giáp là Bí thư Đảng ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Mặt trận.
Hoàng Văn Thái là Tham mưu trưởng.
Trần Đăng Ninh phụ trách hậu cần.
Đông Khê – trận then chốt mở màn – do Hoàng Văn Thái làm Chỉ huy trưởng trận đánh; Lê Trọng Tấn là Chỉ huy phó.
Vậy Chu Văn Tấn ở đâu?
Ông khi ấy là một cán bộ lãnh đạo cấp cao của Liên khu Việt Bắc, địa bàn trực tiếp cung cấp lực lượng, dân công, lương thực, phương tiện và tổ chức các hoạt động phối hợp với chiến dịch.
Lịch sử Quân khu 1 ghi rõ: nhiều đơn vị chủ lực của Liên khu cùng bộ đội địa phương Cao Bằng, Lạng Sơn trực tiếp tham gia; Bộ Tư lệnh Liên khu mở chiến dịch phối hợp ở Đông Khê – Na Sầm, tạo điều kiện cho chủ lực của Bộ đánh Đông Khê.
Nói cách khác:
Chu Văn Tấn không đứng trong chiến hào Đông Khê với tư cách người trực tiếp chỉ huy trận đánh.
Vai trò của ông nằm trong cả hệ thống lãnh đạo và bảo đảm sức mạnh cho chiến trường.
Đó là một vai trò khác, nhưng không vì thế mà nhỏ bé.
Ảnh tư liệu: Pháo binh Việt Nam nổ súng vào cứ điểm Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; ảnh tư liệu trực tiếp về trận đánh Đông Khê ngày 16/9/1950.
4. Ngày 16/9/1950 – Đông Khê nổ súng
Rạng sáng 16/9/1950, quân ta tiến công Đông Khê.
Đông Khê là một vị trí quan trọng trên đường số 4.
Nếu Đông Khê bị đánh mất, hệ thống phòng thủ của Pháp ở Cao Bằng sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.
Cuộc chiến kéo dài hai ngày.
Đến ngày 18/9, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn bị tiêu diệt.
Đây chính là trận then chốt mở đầu.
Sau Đông Khê, thế trận thay đổi nhanh chóng.
Cao Bằng bị cô lập.
Quân Pháp buộc phải tính đến việc rút khỏi Cao Bằng và tổ chức lực lượng từ hai hướng để ứng cứu.
Một binh đoàn từ Cao Bằng rút xuống.
Một binh đoàn từ Lạng Sơn tiến lên.
Phía Việt Nam đã chuẩn bị thế trận.
Và cuộc chiến sắp chuyển sang một giai đoạn quyết liệt hơn.
Ảnh tư liệu: Bộ đội Việt Nam tiến công cứ điểm Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới 1950.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tư liệu ảnh về Chiến dịch Biên giới.
5. “Đánh điểm, diệt viện” – thế trận bắt đầu chuyển hóa
Điểm đặc biệt của Chiến dịch Biên giới không chỉ là đánh chiếm Đông Khê.
Điều quan trọng hơn là sau khi Đông Khê thất thủ, quân Pháp phải đưa quân cơ động đến cứu viện.
Đây chính là điều mà Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tính tới.
Đánh điểm – để buộc địch phải đưa viện binh – rồi diệt viện.
Từ ngày 2 đến 8/10, quân ta liên tiếp tiến công các lực lượng Pháp tại khu vực Cốc Xá và điểm cao 477.
Hai binh đoàn cơ động của Pháp lần lượt bị đánh tan.
Các chỉ huy Charton và Le Page bị bắt.
Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, những trận đánh từ Cốc Xá đến điểm cao 477 đã làm tan rã lực lượng ứng cứu của Pháp và mở đường cho quân ta tiếp tục phát triển xuống phía nam.
Đây là lúc nghệ thuật chiến dịch của quân đội Việt Nam thể hiện rõ nhất:
không cố đánh vào nơi đối phương mạnh nhất; tạo thế buộc đối phương phải di chuyển; sau đó tập trung lực lượng đánh vào đội hình đang cơ động.
Ảnh tư liệu: Hai chỉ huy Pháp Charton và Le Page bị bắt tại khu vực Cốc Xá – điểm cao 477 trong Chiến dịch Biên giới.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
6. Nhưng phía sau chiến trường là cả một Việt Bắc đang chuyển động
Nếu chỉ nhìn vào những trận đánh, người ta có thể nghĩ Chiến dịch Biên giới được quyết định bởi súng đạn.
Thực tế không phải vậy.
Đằng sau những đơn vị chiến đấu là một hậu phương khổng lồ.
Theo lịch sử Quân khu 1, riêng nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã đóng góp khoảng 120.000 dân công trong tổng số 121.700 dân công của toàn mặt trận.
Họ huy động:
316 tấn lương thực;
33 tấn muối;
nhiều loại thực phẩm;
và làm mới khoảng 700 km đường cơ động phục vụ chiến dịch.
Đó chính là nơi Chu Văn Tấn và hệ thống Liên khu Việt Bắc có vai trò đặc biệt.
Bởi ông không chỉ là một người lính.
Ông đang tham gia lãnh đạo một vùng đất phải biến sức người của hàng triệu dân thành sức mạnh phục vụ chiến trường.
Một bao gạo đi lên mặt trận.
Một chiếc cáng đưa thương binh trở về.
Một con đường được mở xuyên rừng.
Một đoàn dân công gánh hàng trong đêm.
Tất cả đều nằm trong một chiến dịch.
Ảnh tư liệu: Dân công phục vụ Chiến dịch Biên giới năm 1950.
Nguồn: Tư liệu lịch sử về công tác hậu cần Chiến dịch Biên giới; nhân dân Việt Bắc là lực lượng đóng góp đặc biệt lớn cho chiến dịch.
7. Một chi tiết rất đặc biệt: giữa lúc chiến dịch đang chuẩn bị, Chu Văn Tấn làm Chánh án
Có một chi tiết ít được nhắc đến khi kể về Chu Văn Tấn năm 1950.
Ngày 5/9/1950, chỉ ít ngày trước khi chiến dịch nổ súng, tại Thái Nguyên diễn ra phiên tòa binh tối cao xét xử vụ án Trần Dụ Châu.
Thiếu tướng Chu Văn Tấn trực tiếp ngồi ghế Chánh án.
Điều này cho thấy vị trí của ông lúc ấy khá đặc biệt.
Ông không chỉ gắn với chiến trường.
Ông còn đảm nhiệm những công việc về tổ chức, pháp luật và kỷ luật quân đội trong hậu phương kháng chiến.
Ngày 5/9, ông còn ở Thái Nguyên.
Mười một ngày sau, chiến dịch chính thức nổ súng tại Đông Khê.
Một cuộc chiến tranh tổng lực không chỉ cần người cầm súng ngoài mặt trận.
Nó cần những người tổ chức hậu phương, giữ kỷ luật, bảo đảm pháp luật, xây dựng lực lượng và điều hành một vùng căn cứ rộng lớn.
Chu Văn Tấn nằm trong lớp cán bộ phải gánh đồng thời nhiều trọng trách như vậy.
Ảnh tư liệu: Thiếu tướng Chu Văn Tấn – người chủ tọa phiên tòa xét xử Trần Dụ Châu tháng 9/1950.
Nguồn: Tư liệu Bộ Quốc phòng và Báo Quân đội nhân dân.
8. Ngày 14/10/1950 – tuyến phòng thủ Đường số 4 sụp đổ
Sau khi các binh đoàn cơ động của Pháp bị đánh tan, thế trận trên Đường số 4 nhanh chóng thay đổi.
Quân ta tiếp tục phát triển tiến công.
Thất Khê được giải phóng.
Lực lượng Pháp rút chạy trên nhiều hướng.
Ngày 14/10/1950, Chiến dịch Biên giới kết thúc.
Theo Bộ Quốc phòng, quân ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 quân Pháp, phá vỡ tuyến phòng thủ Đường số 4, giải phóng nhiều thị xã, thị trấn và mở rộng vùng căn cứ Việt Bắc.
Các tài liệu hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam ghi nhận chiến dịch đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 8.000 quân địch, thu lượng lớn vũ khí, lương thực và quân trang; khu vực biên giới được giải phóng và đường giao thông với Trung Quốc được khai thông.
Chiến thắng ấy có ý nghĩa vượt xa Cao Bằng hay Lạng Sơn.
Thế bao vây Việt Bắc bị phá vỡ.
Biên giới được khai thông.
Căn cứ địa được mở rộng.
Và quan trọng nhất:
quân đội Việt Nam bắt đầu giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Ảnh tư liệu: Bộ đội ta tại một cứ điểm của quân Pháp trong ngày Cao Bằng được giải phóng, tháng 10/1950.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tư liệu ảnh Chiến dịch Biên giới 1950.
9. Với Chu Văn Tấn, đây là sự trở về của một thế hệ
Có một điều rất đáng suy ngẫm.
Chu Văn Tấn từng tham gia xây dựng lực lượng cách mạng ở Bắc Sơn – Võ Nhai khi lực lượng ấy còn rất nhỏ.
Năm 1941, họ phải dựa vào rừng núi.
Đến năm 1950, trên chính không gian chiến lược ấy, hàng vạn bộ đội và dân công đang hoạt động.
Đường số 4 – nơi từng là tuyến giao thông của quân Pháp – trở thành chiến trường quyết định.
Những người từng chiến đấu bằng súng trường, mã tấu và vũ khí thô sơ nay đã có pháo binh, công binh, các trung đoàn chủ lực và một hệ thống hậu cần ngày càng hoàn chỉnh.
Đó là sự trưởng thành của cả một lực lượng.
Vì vậy, gọi Chu Văn Tấn là người “trở lại vùng đất căn cứ” có ý nghĩa nhất ở chỗ này:
Ông trở lại không phải như một người chỉ huy du kích năm xưa.
Ông trở lại với tư cách một vị tướng, một nhà lãnh đạo của Liên khu Việt Bắc, chứng kiến vùng căn cứ cũ trở thành một bộ phận của chiến trường lớn – nơi quân đội cách mạng bắt đầu chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công.
Ảnh tư liệu: Chu Văn Tấn – người gắn bó với phong trào vũ trang Bắc Sơn – Võ Nhai từ những năm đầu.
Nguồn: Tư liệu lịch sử về Chu Văn Tấn; ảnh mang tính nhận diện nhân vật, không phải ảnh trực tiếp tại Chiến dịch Biên giới.
KẾT – TỪ KHUỔI NỌI ĐẾN ĐƯỜNG SỐ 4
Năm 1941, ở Bắc Sơn, Chu Văn Tấn cùng những người đồng chí của mình bắt đầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong điều kiện vô cùng thiếu thốn.
Chín năm sau, một chiến dịch lớn diễn ra trên chính vùng núi phía Bắc.
Nhưng lần này, mọi thứ đã khác.
Không còn chỉ là những đội du kích nhỏ.
Có những trung đoàn.
Có pháo binh.
Có công binh.
Có hệ thống hậu cần.
Có hàng vạn dân công.
Có một Bộ Tổng Tư lệnh đủ khả năng tổ chức một chiến dịch tiến công quy mô lớn.
Và có những người như Chu Văn Tấn – những người đã đi cùng lực lượng vũ trang ấy từ thuở ban đầu.
Chiến dịch Biên giới không phải chiến công của riêng một vị tướng.
Đông Khê có Hoàng Văn Thái và những đơn vị trực tiếp chiến đấu.
Cốc Xá có những trung đoàn chủ lực.
Phía sau họ là hàng vạn dân công.
Trên toàn mặt trận là sự chỉ huy của Bộ Tổng Tư lệnh.
Và phía sau tất cả là Việt Bắc – căn cứ địa đã nuôi dưỡng cuộc kháng chiến.
Chu Văn Tấn là một mắt xích quan trọng trong hệ thống ấy.
Từ Bắc Sơn – Võ Nhai đến Chiến dịch Biên giới 1950, con đường của ông cũng phản ánh con đường trưởng thành của một quân đội:
từ du kích đến chủ lực,
từ phòng ngự đến tiến công,
từ giữ căn cứ đến giành quyền chủ động chiến trường.
Ảnh tư liệu: Chân dung Thượng tướng Chu Văn Tấn.
Nguồn: Tư liệu lịch sử về Chu Văn Tấn; dùng làm hình ảnh kết thúc câu chuyện, không phải ảnh trực tiếp tại Chiến dịch Biên giới 1950.



