“Hùm xám Bắc Sơn” và Khu 4 năm 1947 – giữ hậu phương, chống địch, chuẩn bị cho chiến tranh lâu dài
Sau khi rời chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chu Văn Tấn được cử làm phái viên Chính phủ đi kiểm tra Khu 4. Đến năm 1947, ông đảm nhiệm cương vị Khu trưởng Chiến khu 4, thay Lê Thiết Hùng. Đây là thời điểm Khu 4 đứng trước một bài toán rất khó: Thanh – Nghệ – Tĩnh trở thành vùng tự do, trong khi Bình – Trị – Thiên dần trở thành tiền tuyến và vùng tạm chiếm.
Thời kỳ: Năm 1947 – đầu năm 1948.
1. MỘT NĂM SAU KHI RỜI BỘ QUỐC PHÒNG
Ngày 2/3/1946, Chu Văn Tấn rời cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Người từng đứng đầu cơ quan quốc phòng của Nhà nước non trẻ không trở về nghỉ ngơi.
Ông được cử làm phái viên Chính phủ đi kiểm tra Khu 4. Sau đó, trong năm 1947, ông trở thành Khu trưởng Chiến khu 4.
Đây là một sự trở lại với công việc mà Chu Văn Tấn hiểu rất rõ:
chiến khu, lực lượng vũ trang, địa bàn, dân quân và chiến tranh.
Nhưng Khu 4 năm 1947 không giống Bắc Sơn năm 1941.
Ngày trước, ông có thể chỉ huy vài chục chiến sĩ giữa rừng núi.
Bây giờ, trước mắt ông là một chiến khu trải dài trên miền Trung, với địa hình rất phức tạp và những yêu cầu lớn hơn nhiều.
Chiến khu 4 được thành lập từ tháng 10/1945, gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Đây là địa bàn kéo dài từ Bắc vào Nam, có đồng bằng, trung du, rừng núi, biển và dãy Trường Sơn.
Đến năm 1947, chính địa hình ấy trở thành một thử thách.
Bởi chiến tranh đang ép xuống từ phía Nam.
Và quân Pháp không còn chỉ là những đơn vị nhỏ lẻ.
Chú thích: Chiến khu 4 trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nguồn/giải thích: Hình ảnh mang tính tư liệu và bối cảnh về địa bàn Chiến khu 4; không phải ảnh xác nhận Chu Văn Tấn đang có mặt tại Khu 4 năm 1947. Bộ Quốc phòng xác nhận Chiến khu 4 được thành lập ngày 15/10/1945 với sáu tỉnh Bắc Trung Bộ.
2. KHU 4 – MỘT CHIẾN TRƯỜNG BỊ CHIA LÀM HAI
Năm 1947, một sự thay đổi lớn diễn ra.
Quân Pháp từng bước mở rộng vùng kiểm soát.
Từ đó hình thành một tình thế đặc biệt:
Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh trở thành vùng tự do, vừa là hậu phương vừa là căn cứ của cách mạng.
Trong khi đó, Bình Trị – Thiên trở thành vùng chiến đấu và vùng tạm chiếm.
Bộ Quốc phòng mô tả Khu 4 trong kháng chiến chống Pháp là một địa bàn vừa có hậu phương, vừa có tiền tuyến; quân dân nơi đây vừa phải chiến đấu, vừa tổ chức sản xuất và chi viện cho những chiến trường khác.
Đây là bài toán cực kỳ khó đối với người Khu trưởng.
Nếu dồn lực lượng về phía trước, hậu phương có thể bị suy yếu.
Nếu giữ lực lượng quá chặt ở hậu phương, tiền tuyến Bình – Trị – Thiên sẽ thiếu sức chiến đấu.
Vì vậy, Khu 4 phải làm được cả hai việc:
giữ hậu phương và nuôi tiền tuyến.
Không chỉ thế.
Phải duy trì giao thông.
Phải bảo vệ kho tàng.
Phải tổ chức dân quân.
Phải bổ sung cán bộ.
Phải huấn luyện bộ đội.
Và phải sẵn sàng đối phó với những cuộc tiến công bất ngờ.
Đây là kiểu chiến tranh mà Chu Văn Tấn đã từng trải qua ở Bắc Sơn, nhưng với một quy mô hoàn toàn khác.
Chú thích: Thanh – Nghệ – Tĩnh và Bình – Trị – Thiên trong thế trận Khu 4 thời kỳ đầu kháng chiến.
Nguồn/giải thích: Ảnh/bản đồ minh họa sự phân chia chiến trường; không phải ảnh trực tiếp về Chu Văn Tấn. Theo Bộ Quốc phòng, năm 1947 Thanh – Nghệ – Tĩnh là vùng tự do, còn Bình – Trị – Thiên trở thành tiền tuyến và vùng tạm chiếm.
3. NHỮNG CON ĐƯỜNG PHẢI BỊ CẮT ĐỂ GIỮ KHU 4
Trong chiến tranh, một con đường có thể quan trọng chẳng kém một khẩu súng.
Nếu quân Pháp có thể đưa quân, xe cơ giới và tiếp tế chạy dọc Quốc lộ 1 hoặc đường sắt Bắc – Nam, khả năng cơ động của họ sẽ tăng lên rất nhiều.
Vì vậy, Khu 4 phải chuẩn bị một thế trận khác:
phá đường, phá cầu, cắt giao thông và làm chậm bước tiến của quân Pháp.
Tư liệu về công tác công binh Khu 4 cho biết trong những tháng đầu năm 1947, quân dân Khu 4 đã tiến hành phá hoại có hệ thống các tuyến giao thông; đến tháng 4/1947, công tác phá hoại cơ bản hoàn thành, trong đó nhiều cầu trên các tuyến giao thông huyết mạch bị phá hủy.
Có những cách làm rất đơn giản nhưng phù hợp với điều kiện lúc ấy.
Trên đường bộ, những hố phá đường được bố trí để xe cơ giới không thể đi qua nhưng người đi bộ vẫn có thể vượt.
Những cây cầu lớn được lựa chọn điểm yếu để phá bằng lượng thuốc nổ hạn chế.
Mục tiêu không phải lúc nào cũng là phá hủy hoàn toàn.
Mục tiêu là làm cho quân Pháp không thể sử dụng con đường theo cách họ muốn.
Đây chính là tư duy của chiến tranh nhân dân:
Không có xe tăng thì phá đường.
Không đủ pháo thì đánh vào giao thông.
Không có máy bay thì dùng địa hình.
Không đủ quân chủ lực thì huy động dân quân.
Và biến chính chiều dài của chiến trường thành một trở ngại đối với đối phương.
Chu Văn Tấn, người trưởng thành từ chiến tranh du kích Bắc Sơn, hiểu rất rõ giá trị của kiểu chiến đấu ấy.
Chú thích: Công tác phá đường, phá cầu và ngăn chặn giao thông của quân dân Khu 4 trong những năm đầu kháng chiến.
Nguồn/giải thích: Hình ảnh minh họa hoạt động công binh và phá hoại giao thông trong kháng chiến. Tư liệu về công binh Khu 4 ghi nhận đến tháng 4/1947 công tác phá hoại giao thông cơ bản hoàn thành.
4. KHÔNG CHỈ ĐÁNH ĐỊCH – PHẢI GIỮ ĐƯỢC MỘT VÙNG TỰ DO
Một chiến khu không thể tồn tại chỉ bằng những trận đánh.
Phía sau người lính phải có:
lương thực.
thuốc men.
vũ khí.
cán bộ.
dân quân.
giao thông.
chính quyền.
Vì thế, nhiệm vụ của Khu trưởng không chỉ là chọn nơi đánh địch.
Phải giữ cho vùng tự do tiếp tục hoạt động.
Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh trong năm 1947 dần trở thành một vùng hậu phương quan trọng của Khu 4. Quân dân ở đây vừa chống các hoạt động phá hoại, vừa sản xuất, vừa chi viện cho tiền tuyến. Bộ Quốc phòng đánh giá khu vực này về sau trở thành một trong những căn cứ hậu phương quan trọng của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Đây là điểm rất đáng chú ý trong câu chuyện Chu Văn Tấn.
Ông từng là người chỉ huy du kích.
Nhưng đến năm 1947, ông phải suy nghĩ ở một tầm khác:
Làm thế nào để cả một vùng đất có thể tiếp tục chiến đấu trong nhiều năm?
Một trận đánh có thể thắng trong một ngày.
Nhưng một cuộc kháng chiến cần sức mạnh cho nhiều năm.
Đó là lý do những việc tưởng như rất bình thường – tổ chức dân quân, bảo vệ kho, đào tạo cán bộ, giữ giao thông, huy động lương thực – lại có ý nghĩa chiến lược.
Chú thích: Nhân dân và lực lượng vũ trang Khu 4 xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp.
Nguồn/giải thích: Ảnh minh họa đời sống và lực lượng tại hậu phương Khu 4; không phải ảnh xác nhận Chu Văn Tấn có mặt tại địa điểm chụp.
5. BÌNH – TRỊ – THIÊN: MẶT TRẬN Ở PHÍA NAM
Nếu Thanh – Nghệ – Tĩnh là hậu phương thì Bình – Trị – Thiên là phần đất chịu sức ép trực tiếp hơn.
Ở đây, chiến tranh diễn ra trong điều kiện đặc biệt khắc nghiệt.
Địa bàn dài.
Hẹp.
Bị chia cắt.
Phía tây là Trường Sơn.
Phía đông là biển.
Các đô thị, đồng bằng và vùng rừng núi đan xen.
Và quân Pháp có thể dựa vào các trung tâm chiếm đóng để tổ chức những cuộc hành quân.
Vì vậy, lực lượng vũ trang Bình – Trị – Thiên phải dựa nhiều vào chiến tranh du kích, bám dân, bám địa bàn và đánh vào những điểm yếu của đối phương.
Khu 4 phải tìm cách hỗ trợ lực lượng này từ vùng tự do phía Bắc.
Đó là lý do Khu 4 năm 1947 không thể nhìn chiến tranh theo ranh giới hành chính.
Một trận đánh ở phía Nam có thể cần lương thực từ phía Bắc.
Một đơn vị ở tiền tuyến cần cán bộ được đào tạo từ hậu phương.
Một kho vũ khí ở vùng tự do có thể quyết định khả năng chiến đấu của một đơn vị cách đó hàng trăm kilômét.
Chiến trường và hậu phương trở thành hai phần của cùng một cơ thể.
Đó là thế trận mà Chu Văn Tấn phải quản lý.
Chú thích: Quân dân Bình – Trị – Thiên trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
Nguồn/giải thích: Hình ảnh minh họa chiến trường Bình – Trị – Thiên; không phải ảnh trực tiếp của Chu Văn Tấn. Theo Bộ Quốc phòng, năm 1947 khu vực này trở thành tiền tuyến của Chiến khu 4.
6. CUỐI NĂM 1947 – NHÌN LẠI NHỮNG ĐIỂM YẾU
Năm 1947 không chỉ có những câu chuyện về chiến thắng.
Cuối năm, công tác kiểm tra của Trung ương đã chỉ ra một số hạn chế trong lực lượng vũ trang Khu 4:
tình trạng địa phương chủ nghĩa;
nội bộ chưa đoàn kết;
thiếu sự chỉ đạo thống nhất;
một bộ phận cán bộ có tư tưởng chủ quan, thiếu tích cực.
Đây là những nhận xét được chính Cục Chính trị Quân khu 4 ghi lại trong lịch sử hoạt động của mình.
Điều đáng nói là những khuyết điểm ấy không bị che giấu.
Sau kiểm tra, Bộ Chỉ huy Khu và cơ quan chính trị tổ chức kiểm điểm, chấn chỉnh.
Công tác giáo dục chính trị được đẩy mạnh.
Các đơn vị được yêu cầu nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết và quyết tâm kháng chiến lâu dài.
Đây cũng là một mặt khác trong vai trò của Chu Văn Tấn.
Một người chỉ huy không chỉ biết ra lệnh tiến công.
Còn phải biết nhìn vào những điểm yếu của chính lực lượng mình.
Bởi một chiến trường bị chia cắt, thiếu thốn và kéo dài sẽ rất dễ làm nảy sinh tư tưởng cục bộ.
Nếu không sửa chữa, những hạn chế nhỏ có thể trở thành vấn đề lớn.
Cuối năm 1947, Khu 4 vì thế bước vào một quá trình chấn chỉnh tổ chức và nâng cao khả năng chiến đấu.
Chú thích: Công tác huấn luyện, giáo dục và xây dựng lực lượng vũ trang Khu 4 trong kháng chiến chống Pháp.
Nguồn/giải thích: Hình ảnh minh họa quá trình xây dựng lực lượng. Cục Chính trị Quân khu 4 ghi nhận cuối năm 1947 đã tiến hành chấn chỉnh những hạn chế được Đoàn kiểm tra Trung ương chỉ ra.
7. TỪ KHU 4 ĐẾN CHIẾN KHU 1 – MỘT NĂM ĐỂ BƯỚC LÊN CẤP ĐỘ MỚI
Năm 1947 khép lại.
Chu Văn Tấn đã trải qua một năm ở một chiến trường rất khác Bắc Sơn.
Không còn là những đội du kích nhỏ.
Không còn là một căn cứ địa hẹp.
Ông đã phải nhìn một chiến trường rộng lớn với cả tiền tuyến và hậu phương, với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
Đó là kinh nghiệm quan trọng trước khi ông trở lại Việt Bắc.
Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm Thiếu tướng cho Chu Văn Tấn. Khi ấy ông là Khu trưởng Chiến khu 1. Đây là đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 25/1/1948, hệ thống chiến khu được tổ chức lại.
Chiến khu 1 và Chiến khu 12 hợp thành Liên khu 1, và Chu Văn Tấn được giao làm Liên khu trưởng.
Một cánh cửa khác mở ra.
Từ Khu 4, ông trở lại miền núi phía Bắc.
Nhưng ông không còn là Chu Văn Tấn của những năm 1941.
Ông đã đi qua:
Bắc Sơn.
Cứu quốc quân.
Tân Trào.
Bộ Quốc phòng.
Khu 4.
Và giờ đây là một chiến khu rộng lớn ở Việt Bắc.
Người từng học cách đánh từ rừng Bắc Sơn đang bước vào thời kỳ mà lực lượng vũ trang cách mạng bắt đầu chuyển mạnh từ những trận đánh du kích nhỏ sang tác chiến tập trung với quy mô lớn hơn.
Chú thích: Chu Văn Tấn trong những năm kháng chiến chống Pháp; các tư liệu sau này cho thấy ông tiếp tục giữ những cương vị chỉ huy quan trọng ở Việt Bắc.
Nguồn/giải thích: Ảnh tư liệu về Chu Văn Tấn; không phải ảnh xác nhận ông đang ở Khu 4 năm 1947. Ngày 20/1/1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng; sau đó đảm nhiệm cương vị Liên khu trưởng Liên khu 1.
KẾT – “HÙM XÁM BẮC SƠN” TRƯỚC MỘT KIỂU CHIẾN TRANH KHÁC
Có lẽ điều đáng nhớ nhất về Chu Văn Tấn ở Khu 4 năm 1947 không phải là một trận đánh cụ thể.
Mà là sự thay đổi về quy mô của cuộc chiến mà ông phải đối mặt.
Ở Bắc Sơn, ông từng chỉ huy những đội du kích nhỏ, sống dựa vào dân và địa hình rừng núi.
Đến Khu 4, ông phải nhìn cả một chiến trường rộng lớn.
Một nửa là hậu phương.
Một nửa là tiền tuyến.
Một bên phải sản xuất.
Một bên phải chiến đấu.
Một nơi cần cán bộ.
Một nơi cần vũ khí.
Một nơi phải giữ đất.
Một nơi phải tìm cách đánh địch.
Và tất cả phải kết nối với nhau.
Năm 1947 cũng cho thấy một sự thật khác:
Không phải cứ có một người chỉ huy giỏi là chiến trường sẽ tự nhiên mạnh lên.
Phải có tổ chức.
Phải có kỷ luật.
Phải có sự thống nhất.
Phải biết sửa sai.
Phải biết biến kinh nghiệm du kích thành một phương thức tổ chức chiến tranh phù hợp với quy mô ngày càng lớn.
Cuối năm ấy, chính những hạn chế về địa phương chủ nghĩa, thiếu thống nhất và tư tưởng chủ quan trong lực lượng Khu 4 đã được kiểm tra, nhận diện và chấn chỉnh.
Đó cũng là điều làm nên ý nghĩa của năm 1947 trong cuộc đời Chu Văn Tấn.
Ông không chỉ học cách đánh một trận.
Ông học cách đứng ở cấp độ của một chiến trường.
Và khi rời Khu 4 để trở lại Chiến khu 1, “Hùm xám Bắc Sơn” đã không còn chỉ là người chỉ huy du kích.
Ông đã trở thành một vị tướng của một cuộc kháng chiến đang từng bước trưởng thành.
Chú thích: Chu Văn Tấn – từ người chỉ huy Cứu quốc quân Bắc Sơn đến cán bộ chỉ huy cấp cao của lực lượng vũ trang cách mạng.
Nguồn/giải thích: Ảnh chân dung tư liệu về Chu Văn Tấn do Báo Quân đội nhân dân giới thiệu. Đây là ảnh về nhân vật, không phải ảnh chụp trực tiếp tại Khu 4 năm 1947.



