Hùm xám đường số 4 Đặng Văn Việt
Trung tá Đặng Văn Việt sinh năm 1920, tại Diễn Châu, Nghệ An trong một gia đình bề thế, dòng dõi của danh tướng Đặng Tất, Đặng Dung thời Hậu Trần.

Ông nội của ông là Đình nguyên Hoàng giáp Đặng Văn Thụy, từng làm Tế tửu Quốc tử Giám. Bà nội của ông là bà Cao Thị Bích, con gái của Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục. Cha ông là Phó bảng Đặng Văn Hướng, Tham tri Bộ Hình triều đình nhà Nguyễn, Tổng đốc Nghệ An thuộc chính phủ Trần Trọng Kim.
Từ năm 1947, ông Hướng là Quốc vụ khanh đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh- Nghệ - Tĩnh trong Chính phủ Hồ Chí Minh. Mẹ của ông là bà Hoàng Thị Hiến, con gái đầu của cụ Hoàng Đạo Phương, cụ Phương là anh ruột học giả Hoàng Đạo Thúy.
Hai người dì đều lấy những nhân vật nổi tiếng như bà Hoàng Thị Hảo lấy ông Trịnh Văn Bính (từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính) hay bà Hoàng Thị Hồ lấy thương gia Trịnh Văn Bô, người từng hiến hàng ngàn lượng vàng cho Chính phủ VNDCCH và cũng là chủ nhân ngôi nhà 48 Hàng Ngang, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Tuyên ngôn độc lập.
Ông còn là cậu bên vợ của nhà tình báo, Thiếu tướng Nguyễn Đình Ngọc.
Thuở nhỏ, ông theo học trường Quốc học Huế. Và theo học 4 năm tại trường Lycée de la Providence. Rồi tiếp tục học thêm 4 năm nữa tại trường Trung học Khải Định. Sau khi đỗ tú tài toàn phần năm 1942, ông ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương.
Tháng 3/1945, ông tham gia lực lượng Việt Minh. Ngày 17/8/1945, ông được giao nhiệm vụ treo cờ Việt Minh trước cửa Ngọ Môn, đánh dấu việc Mặt trận Việt Minh lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền thành công tại Huế.
Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông trở thành một trong những chỉ huy đầu tiên của quân đội, được chỉ định làm Phân đội trưởng Phân đội 1 (gồm 36 người) của Giải phóng quân, trấn giữ tại cửa Thuận An. Tại đây, ông đã chỉ huy bao vây chiếc tàu chiến của Pháp định quay lại chiếm Huế, bắt sống một Đại úy Pháp, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn do tướng Alessandri chỉ huy.
Khi quân Pháp chiếm Huế, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận đường số 9 (Hạ Lào 1945), rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận đường số 7 (Thượng Lào 1946), thực hiện nhiều cuộc giao chiến làm giảm sức tiến công của quân Pháp.
Đường số 4 dài 340km giống như ống thực quản khổng lồ nuôi sống hệ thống lô cốt trên biên giới Việt - Trung, là gọng kìm xuyên suốt từ Đông Bắc qua Cao - Bắc - Lạng.
Quân Pháp thiết lập tuyến đường này với tham vọng bóp nát cơ quan đầu bão và dập tắt cuộc kháng chiến của nhân dân ta trong ba tháng.
Năm 1947, Trung tá Việt được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận đường số 4, tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947, góp công lớn trong việc đả bại quân Pháp, và phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của người Pháp.
Năm 1949, khi Trung đoàn 174 chủ lực đầu tiên của QĐNDVN được thành lập, ông vinh dự được lãnh trách nhiệm Trung đoàn trưởng. Để làm lễ ra mắt Trung đoàn ngày 4/9/1948, Trung tá Việt quyết định mở trận đánh Bông Lau - Lũng Phầy.
Chính ông là người trực tiếp dẫn lính trinh sát đi thực địa, lên phương án tác chiến ngay tại trận. Đây là một kế hoạch khá táo bạo của Trung tá Việt, bởi lẽ người Pháp đã phải trả giá quá đắt cho những trận đánh tại đèo Bông Lau trước đó, nên họ đã vô cùng cảnh giác. Nhưng bằng sự tài năng của mình Trung tá Việt lại một lần nữa cho người Pháp phải ôm hận.
Tại đây 4 tiểu đoàn được Trung tá Việt tung vào trận địa phục kích. Cụ thể Trung tá Việt cho bố trí hai tầng hoả lực pháo binh trên đỉnh núi, dùng một Tiểu đoàn khoá đuôi phía Thất Khê, một Tiểu đoàn chặn đầu phía Đông Khê, hai Tiểu đoàn còn lại bố trí quân mai phục dọc đường, và một đại đội quân địa phương am hiểu địa hình ép sát sườn, sau và trước đỉnh núi, khi quân Pháp lọt vào trận địa thì đồng loạt nổ súng.
Kết quả 133 xe quân sự của Pháp bị phá hủy và thu giữ, hơn 100 tù binh bị bắt, vũ khí quân trang thu được đủ để trang bị cho cả một Trung đoàn. Chiến công là lừng lẫy như vậy nhưng thương vong của ta lại vô cùng ít ỏi, chỉ có 15 chiến sĩ thương vong.
Đây là trận phục kích lớn nhất trên đường số 4. Trận đánh diễn ra ba ngày nhưng lại chấm dứt gần ba năm chống chọi với địch. Với việc đường số 4 bị chặt đứt, quân Pháp không thể vận chuyển bằng xe cơ giới tiếp tế cho Cao - Bắc - Lạng. Cái “ống thực quản” đường số 4 và tham vọng của giặc Pháp coi như bị xóa sổ.
Năm 1950, ông chỉ huy trung đoàn đánh trận mở màn của chiến dịch Biên giới, tiêu diệt cứ điểm Đông Khê, bắt sống cả hai chỉ huy binh đoàn Pháp là các Trung tá Marcel Lepage và Pierre Charton.
Trong suốt giai đoạn từ 1947 - 1953, Trung tá Việt đã trải qua hơn 100 trận đánh lớn nhỏ, trong đó có những trận đánh lớn như Việt Bắc thu đông 1947, Bông Lau- Lũng Phầy 1949, Biên giới 1950, Tây Bắc (1952), chiến dịch Hòa Bình, phá hủy căn cứ đồng bằng Bắc bộ của quân Pháp (1952)...
Ngày 19 tháng 12 năm 1953, Luật Cải cách Ruộng đất được thông qua. Đầu năm 1954, gia đình ông trở thành nạn nhân của cuộc đấu tố tàn khốc. Cha ông là cụ Đặng Văn Hướng bị đấu tố đến chết tại quê nhà khi đang đương chức là Quốc vụ khanh đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh- Nghệ - Tĩnh trong Chính phủ Hồ Chí Minh, gia đình ông ly tán khắp nơi. Bản thân ông bị rời khỏi chức vụ Trung đoàn trưởng, được điều sang Trung Quốc làm công tác luyện quân, thực chất bị loại trừ khỏi vị trí chỉ huy quân đội.
Năm 1954, ông trở về Việt Nam, được phân công giảng dạy ở Trường sĩ quan lục quân. Năm 1958, ông được phong quân hàm trung tá. Năm 1960, ông xuất ngũ và được điều sang làm Cục phó Cục Vật liệu xây dựng, rồi Cục phó Cục Xây dựng cơ bản thuộc ngành Thủy sản đến khi nghỉ hưu.
Cả cuộc đời ông Đặng Văn Việt không khen thưởng, không đề bạt, không bổng lộc. Từ khi được phong quân hàm đến lúc nghỉ hưu chỉ đeo quân hàm "Trung tá".
Sau khi về hưu, cuộc sống ông có lúc lao đao phải đạp xe đưa bánh kẹo kiếm sống. Tuy nhiên, với tính lạc quan và cộng với nền tảng giáo dục của gia đình, ông có tinh thần học tập và phát triển kiến thức rất tốt.
Ông nói thành thạo tiếng Pháp, ngoài 70 tuổi vẫn đi học để sử dụng được tiếng Anh... Thời gian công tác trong ngành xây dựng, ông còn học thêm bằng kỹ sư. Từ năm 1985, ông bắt đầu bước vào sự nghiệp văn chương.
Do từng là một trong những sĩ quan cao cấp thời kỳ đầu và từng có thời gian gắn bó với chiến trường đường số 4, ông đã viết và dịch nhiều hồi ký liên quan đến con đường lịch sử này.
Đặc biệt, với hồi ký "Đường số 4 rực lửa", ông đã được tặng giải thưởng cao nhất của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam vào năm 1999. Hồi ký được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đích thân viết lời tựa, và Đại tướng Hoàng Văn Thái viết lời giới thiệu.
Nhiều năm cuối đời, ông ở trong một căn phòng tập thể chưa đầy 15m2 được ngăn thành 2 nửa cho vợ chồng người con trai.
Năm 2012, Bộ Nội Vụ chính thức có 01 văn bản " SỬA SAI" gửi Tỉnh ủy Nghệ an về việc công nhận Cha ông- cụ Đặng Văn Hướng là nhân sĩ được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Cách mạng.
Cầm tờ giấy A4 phô tô nhàu nhát mà ông rơi nước mắt rồi nói " Gia đình ông chờ đợi tờ giấy này tròn 60 năm"...
Ông hay thích tự gọi mình là tướng không sắc phong, là anh hùng không tuyên dương, là hùm xám không nanh vuốt, là người lính già ĐẶNG VĂN VIỆT.
Nghĩ về cuộc đời mình, ông Đặng Văn Việt có lần chia sẻ, "đi làm cách mạng là tôi đã chọn, vui có buồn có nhưng vui nhiều hơn buồn; được có, mất có nhưng được nhiều hơn mất.
Tôi đã sống một cuộc đời độc lập tự do, không lệ thuộc ai, không nô lệ cho những phù phiếm ham muốn của người đời. Tiền tài, chức tước, sao biển, hưởng thụ, khen thưởng… không làm tôi lo lắng suy nghĩ, vẫn lạc quan vui với đời. Tôi giữ được sức khỏe tốt, nhờ trời Phật, bố mẹ, bản thân...
Nay gần trăm tuổi, tôi vẫn ham làm, ham vui đến nỗi có bác sĩ nói, không biết bao giờ ông Việt sẽ thoát khỏi cuộc đời này bằng lối nào... Tôi đã đạt được ước vọng lớn nhất của người đời là thoát khỏi cảnh lầm than nô lệ, được thấy Đất nước độc lập, tự do, thống nhất, nhân dân ngày càng ấm no hạnh phúc..
Trên mọi lĩnh vực, công việc được giao tôi đều làm theo lời Bác dặn: Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng."


