Bài viết

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG – TRẦN QUỐC TUẤN

20/10/2026Đoàn trường THPT chuyên Phan Ngọc Hiển (Đoàn Phường An Xuyên)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi nhắc đến sự kiện lịch sử cắm cọc trên sông bạch đằng, trong đầu mỗi con người Việt Nam chúng ta liền nảy ra ba cái tên : Ngô Quyền – Lê Hoàn – Trần Hưng Đạo. Nếu Ngô Quyền là người khai sinh ra chiến thuật trận địa cọc ngầm đánh tan quân Nam Hán (năm 938), Lê Đại Hành kế thừa oanh liệt đập tan quân Tống (năm 981), thì đến thế kỷ 13, Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn đã đưa nghệ thuật thủy chiến này lên một tầm cao mới, biến sông Bạch Đằng thành mồ chôn đạo quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ - quân Nguyên Mông.

Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh khoảng năm 1228 và mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300). Ông quê gốc tại hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Là con trai thứ của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu ruột vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và cháu họ Thái sư Trần Thủ Độ, ông sinh ra và lớn lên trong gia tộc nhà Trần đang thời kỳ hưng thịnh. Từ nhỏ, Trần Quốc Tuấn đã nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ, văn võ song toàn, sớm bộc lộ tư chất của một thiên tài quân sự. Sau này, ông được phong tước Hưng Đạo Đại Vương và đảm nhận trọng trách Quốc công Tiết chế – vị Tổng chỉ huy tối cao của toàn bộ lực lượng quân sự Đại Việt.

Tài thao lược của ông tỏa sáng rực rỡ nhất trong cuộc quyết chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288. Đầu năm đó, đạo quân Nguyên Mông lần thứ ba tràn sang nước ta do Thoát Hoan chỉ huy đã rơi vào thế cùng lực kiệt. Thiếu lương thực trầm trọng và liên tục bị quân dân Đại Việt tập kích, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước. Nắm bắt thời cơ vàng, Hưng Đạo Đại Vương nhận định: địch chắc chắn sẽ rút lui theo đường thủy qua cửa sông Bạch Đằng. Bằng nhãn quan chiến lược thiên tài, ông quyết định chọn nơi đây làm trận địa quyết chiến chiến lược để kết thúc hoàn toàn dã tâm của kẻ thù.

Sự chuẩn bị công phu và nghệ thuật lợi dụng địa hình đặc biệt của Hưng Đạo Đại Vương, không chỉ đơn thuần lặp lại kế cũ, Trần Hưng Đạo đã nâng tầm chiến thuật cắm cọc bằng sự tính toán vô cùng khoa học và chuẩn xác. Nửa đêm, ông đích thân cùng các tướng lĩnh đi khảo sát địa hình. Nhận thấy Bạch Đằng là con sông rộng, nước chảy xiết, hai bên bờ là rừng rậm, đặc biệt có độ chênh lệch thủy triều rất lớn, ông đã ra lệnh cho quân lính và nhân dân đốn gỗ lim, táu trên rừng, vót nhọn, cắm thành những bãi cọc dày đặc, ngầm dưới mặt nước tại các cửa sông Chanh, sông Kênh, sông Rút (những nhánh đổ ra sông Bạch Đằng).

Điều làm nên sự vĩ đại của Trần Hưng Đạo là khả năng tính toán con nước thủy triều chính xác đến từng giờ. Ông bố trí trận địa sao cho khi nước lớn, toàn bộ bãi cọc bị che lấp, và chỉ nhô lên như một bàn chông khổng lồ khi triều rút. Đồng thời, ông bố trí phục binh dọc hai bên bờ sông, chuẩn bị sẵn các bè lau sậy chứa chất cháy để dùng hỏa công.

Để hiểu thêm về trận chiến này, ta sẽ tìm hiểu từng yếu tố đã quyết định nên trận đại thắng này. Sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288 (tức mùng 8 tháng 3 năm Mậu Tý), đoàn thuyền chiến của giặc do tướng Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào sông Bạch Đằng. Đúng như kế hoạch, Hưng Đạo Vương cho một toán thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi vờ thua bỏ chạy. Ô Mã Nhi cậy thế binh hùng tướng mạnh, kiêu ngạo thúc quân đuổi theo. Mải mê truy kích, quân Nguyên đã hoàn toàn lọt vào trận địa mai phục lúc nước triều đang ở mức cao nhất.

Khi thủy triều bắt đầu rút mạnh, cũng là lúc Hưng Đạo Vương ra lệnh phản công. Thuyền của giặc bị nước cuốn trôi trượt xuống hạ lưu và va đập dữ dội vào bãi cọc ngầm đang nhô lên. Hàng trăm chiến thuyền giặc bị đâm thủng, vỡ nát, xô đẩy vướng vào nhau. Từ hai bên bờ, quân Trần vứt các bè hỏa công rực lửa lao thẳng vào thuyền giặc. Tên độc bắn xuống như mưa. Trong sự hoảng loạn tột độ, quân Nguyên bị tiêu diệt hoàn toàn. Hơn 400 chiến thuyền bị phá hủy hoặc tịch thu, các tướng lĩnh sừng sỏ của địch như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ đều bị bắt sống.

Trận Bạch Đằng năm 1288 không chỉ là một chiến thắng quân sự vĩ đại, đập tan vĩnh viễn ý chí xâm lược Đại Việt của Đế quốc Nguyên Mông, mà còn là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự "lấy đoản binh chế trường trận", "dùng dật đãi lao" (lấy sức nhàn đợi kẻ mỏi mệt) của Hưng Đạo Đại Vương.

Chiến thắng ấy đã khắc họa rõ nét chân dung Trần Hưng Đạo - một vị thống soái kiệt xuất, tài trí hơn người, không chỉ giỏi dùng binh mà còn biết dựa vào sức mạnh của nhân dân. Trận địa cọc Bạch Đằng năm 1288 mãi mãi là một khúc hùng ca bất diệt, minh chứng cho tầm vóc vĩ đại của người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn trong tiến trình bảo vệ nền độc lập của nước ta.

Thế nhưng, sự vĩ đại của Trần Hưng Đạo không chỉ dừng lại ở những chiến công hiển hách trên chiến trường, mà còn tỏa sáng rực rỡ ở nhân cách cao cả và tầm nhìn của một nhà tư tưởng, một lãnh tụ kiệt xuất.

Trước hết, đó là bài học về đại cục và tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Đứng trước vận mệnh nguy nan của đất nước, ông đã chủ động gạt bỏ hiềm khích sâu nặng của gia tộc (lời trăng trối đoạt ngôi vị của cha là Trần Liễu), đặt lợi ích non sông lên trên tư thù. Chính tấm lòng trung quân ái quốc, "bỏ thù nhà đền nợ nước" của ông đã hóa giải mọi mâu thuẫn trong hoàng tộc, tạo nên sức mạnh "vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước chung sức". Dưới trướng của ông, những nhân tài không phân biệt xuất thân như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trương Hán Siêu... đều được trọng dụng và phát huy tối đa tài năng. Đó chính là đỉnh cao của nghệ thuật thu phục nhân tâm.

Thứ hai, ông là một nhà lý luận quân sự đại tài, người truyền lửa vĩ đại. Không giấu giếm bí quyết cầm quân, ông đã dày công soạn thảo Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để huấn luyện tướng sĩ. Đặc biệt, bản Hịch tướng sĩ hào hùng, đanh thép của ông đã thức tỉnh lòng tự tôn dân tộc, khơi dậy ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết chiến quyết thắng trong toàn quân. Lịch sử hiếm có vị Thống soái nào vừa trực tiếp cầm quân bách chiến bách thắng, vừa để lại những tác phẩm binh pháp và chính luận bất hủ như vậy.

Cuối cùng, bài học lớn nhất, sâu sắc nhất mà Trần Hưng Đạo để lại cho hậu thế chính là tư tưởng "lấy dân làm gốc". Trước lúc lâm chung, khi vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi kế sách giữ nước, ông đã để lại một lời căn dặn mang giá trị vượt thời đại: "Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước". Với ông, thành trì vững chắc nhất không phải là núi sông hiểm trở, mà là lòng dân. Biết chăm lo sức dân, bồi dưỡng tiềm lực quốc gia trong thời bình mới là cách bảo vệ đất nước lâu dài và bền vững nhất.

Từ một Thống soái kiệt xuất bằng xương bằng thịt, Trần Hưng Đạo đã bước vào cõi bất tử, được nhân dân đời đời nhớ ơn và được suy tôn là "Đức Thánh Trần". Cuộc đời ông là một bản hùng ca trọn vẹn, một tấm gương sáng ngời về tài năng lãnh đạo, nghệ thuật quân sự và hơn hết là một trái tim biết căm thù giặc và biết yêu thương dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG – TRẦN QUỐC TUẤN | Câu chuyện thời hoa lửa