Bài viết

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: Hào Khí Đông A Và Thượng Sách Giữ Nước Ngàn Đời

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: Hào Khí Đông A Và Thượng Sách Giữ Nước Ngàn Đời

28/10/2026Mai Ngọc Bảo (Phường An Lạc)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: Hào Khí Đông A Và Thượng Sách Giữ Nước Ngàn Đời

Thế kỷ XIII, vó ngựa của đế chế Mông - Nguyên tung hoành khắp đại lục Á - Âu, xóa sổ hàng chục quốc gia từ Đông sang Tây. Nhưng khi đạo quân hùng mạnh bậc nhất lịch sử nhân loại ấy tràn xuống phương Nam, chúng đã phải ba lần nếm mùi thảm bại trên mảnh đất Đại Việt. Đứng ở vị trí linh hồn trong các cuộc kháng chiến vĩ đại ấy là Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn — vị danh tướng kiệt xuất được nhân dân Việt Nam tôn kính gọi là Đức Thánh Trần.

Hình tượng của ông được khắc họa sống động qua bức tượng đồng uy nghiêm tại quê hương Nam Định (xưa là phủ Thiên Trường): tay phải nâng cuốn Hịch tướng sĩ trước ngực như luôn đau đáu vận mệnh non sông, tay trái đặt trên chuôi kiếm sẵn sàng bảo vệ bờ cõi.

Gác thù nhà, trọn nghĩa nước

Trần Quốc Tuấn (sinh khoảng năm 1228 hoặc 1231, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định) là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu ruột của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh).

Bi kịch gia tộc bắt đầu từ năm 1237, khi Thái sư Trần Thủ Độ ép An Sinh Vương Trần Liễu phải nhường người vợ đang mang thai là Thuận Thiên công chúa cho em ruột là vua Trần Thái Tông để củng cố ngôi vị hoàng tộc. Mang nỗi uất hận sâu sắc, trước lúc lâm chung (năm 1251), Trần Liễu đã nắm tay Trần Quốc Tuấn trối trăng: "Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được!"

Trần Quốc Tuấn ghi lời cha để trong lòng nhưng không cho là phải. Khi vận nước lâm nguy trước họa xâm lăng của đế quốc Nguyên - Mông, ông hiểu rằng nếu hoàng tộc chia rẽ, Đại Việt tất sẽ diệt vong.

Một lần, ông đem lời trăngối của cha hỏi thử hai gia nô trung thành là Yết Kiêu và Dã Tượng. Cả hai đều khẳng khái thưa: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương dư dả phú quý rồi, chúng tôi nguyện chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà thiếu trung hiếu". Trần Quốc Tuấn vô cùng cảm복. Đến khi hỏi người con trai là Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, Quốc Nghiễn trả lời có ý khuyên cha đoạt ngôi, Trần Quốc Tuấn đã nổi giận rút gươm định chém, nhờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng vội chạy đến khóc lóc xin tha mới khỏi chết.

Không chỉ giữ trọn lòng trung với triều đình, trước thềm cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn còn chủ động xóa bỏ mối bất hòa lâu năm với em họ là Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải (con trai vua Trần Thái Tông). Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lại: một hôm, Hưng Đạo Vương tự tay dội nước thơm tắm cho Trần Quang Khải, vừa tắm vừa cười nói: "Hôm nay mới được tắm cho Thượng tướng". Trần Quang Khải cũng đáp lại: "Hôm nay mới được Quốc công tắm cho". Từ khoảnh khắc ấy, mọi hiềm khích giữa hai nhánh hoàng tộc hoàn toàn tan biến, tạo nên khối đại đoàn kết vững chắc nơi thượng tầng vương triều Trần.

Tiếng lòng "Hịch tướng sĩ" và lời thề đẫm máu

Sau thất bại năm 1258, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ráo riết chuẩn bị lực lượng khổng lồ nhằm thôn tính Đại Việt. Tháng 10 năm 1283, vua Trần Nhân Tông phong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội cả nước.

Trước nguy cơ họa xâm lăng cận kề mà một bộ phận tướng sĩ còn ham vui hưởng lạc, ông đã soạn bộ binh thư Binh thư yếu lược và viết bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn (thường gọi là Hịch tướng sĩ). Những lời văn tâm huyết của vị chủ tướng vang lên như tiếng chuông cảnh tỉnh, lay động tận đáy lòng ba quân:

"Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng!"

Khí thế ấy đã truyền sang toàn quân dân Đại Việt: từ bô lão hô vang chữ "Đánh!" tại Hội nghị Diên Hồng đến hàng vạn chiến sĩ tự khắc lên cánh tay hai chữ "Sát Thát" (Giết giặc Mông Cổ).

Đầu năm 1285, khi 50 vạn quân Nguyên do Thái tử Thoát Hoan chỉ huy ồ ạt vượt biên giới, thế giặc mạnh như chẻ tre. Quân nhà Trần phải rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Giữa lúc nguy cấp nhất, vua Trần Nhân Tông ngự thuyền nhỏ đến hỏi ý Hưng Đạo Vương và nói câu thăm dò: "Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân sinh lầm than, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân?"

Trần Quốc Tuấn lập tức khẳng khái tâu:

"Bệ hạ nói câu ấy thực là lời nhân đức, nhưng tông miếu xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã, rồi sau hãy hàng!"

Lời tâu đanh thép đã củng cố ý chí sắt đá của nhà vua. Ngay sau đó, bằng nghệ thuật quân sự "lấy đoản binh chế trường trận", quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh đã phản công thắng lợi tại Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp, khiến Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn về nước.

Trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288

Không cam tâm thất bại, cuối năm 1287, quân Nguyên mở cuộc xâm lược lần thứ ba với hàng chục vạn quân cùng đoàn thuyền lương khổng lồ của Trương Văn Hổ. Lần này, Hưng Đạo Vương bình tĩnh tâu với vua Trần: "Năm nay đánh giặc nhàn".

Ông chỉ đạo kế hoạch "thanh dã" (vườn không nhà trống) tại kinh thành Thăng Long và cho tướng Trần Khánh Dư phục kích tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền lương của giặc tại Vân Đồn. Rơi vào cảnh thiếu lương thực trầm trọng và bị đánh tỉa khắp nơi, mùa xuân năm 1288, Thoát Hoan buộc phải chia quân rút lui theo hai đường thủy - bộ.

Đoán trước toàn bộ cánh quân thủy do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy sẽ rút qua sông Bạch Đằng, Trần Quốc Tuấn đã bí mật chuẩn bị một trận địa cọc gỗ lim bịt sắt đóng ngầm dưới lòng sông, kết hợp với quy luật lên xuống của thủy triều.

Sáng ngày 8 tháng 3 năm Kỷ Sửu (tức ngày 9 tháng 4 năm 1288), khi nước thủy triều dâng cao che lấp bãi cọc, quân Trần cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy. Ô Mã Nhi trúng kế, dốc toàn lực đuổi theo. Đúng lúc thủy triều rút xuống cực nhanh, quân Đại Việt từ hai bên bờ ồ ạt đổ ra đánh quặt lại. Hàng trăm chiến thuyền to lớn của quân Nguyên xô vào bãi cọc ngầm, vỡ nát và bốc cháy. Toàn bộ thủy quân giặc bị xóa sổ, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc đều bị bắt sống. Từ sau đại thắng Bạch Đằng năm 1288, nhà Nguyên hoàn toàn từ bỏ mộng xâm lược Đại Việt.

Lời di chúc ngàn năm trên giường bệnh

Sau khi đất nước thái bình, dù lập công lao蓋 thế và được phong tước Hưng Đạo Đại Vương, Trần Quốc Tuấn không màng quyền lực mà lui về điền trang tại Vạn Kiếp (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) an hưởng tuổi già và biên soạn sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư.

Tháng 6 năm Canh Tý (1300), khi ông lâm bệnh nặng, Thượng hoàng Trần Nhân Tông và vua Trần Anh Tông ngự tới tận nhà thăm và hỏi: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"

Trên giường bệnh, Hưng Đạo Đại Vương đã để lại bản tổng kết chiến lược giữ nước bất hủ suốt chiều dài lịch sử dân tộc:

"Nước ta buổi đầu dựng nước, vua Đinh, vua Lê, vua Lý, vua Trần bao phen lấy đoản binh thắng trường trận... Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, nhưng vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta cậy đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy."

Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (tức ngày 5 tháng 10 năm 1300), Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn qua đời ở tuổi ngoài 70 tại Vạn Kiếp. Triều đình truy tặng ông tước Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương, còn nhân dân đời đời lập đền thờ phụng và suy tôn ông là Đức Thánh Trần.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn