HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN – VỊ ANH HÙNG LÀM RẠNG DANH NON SÔNG ĐẠI VIỆT
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có những con người đã trở thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước, ý chí quật cường và tài năng quân sự. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một trong những con người như thế. Tên tuổi của ông gắn liền với những trang sử hào hùng nhất của nhà Trần và những chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thế kỷ XIII.
Thế kỷ XIII, đế quốc Mông Cổ và nhà Nguyên là một thế lực quân sự hùng mạnh, từng chinh phục nhiều vùng đất rộng lớn ở châu Á và châu Âu. Trong bối cảnh ấy, Đại Việt phải đối mặt với những cuộc xâm lược quy mô lớn. Trước thử thách sống còn của dân tộc, triều Trần đã quy tụ được sức mạnh của triều đình, quân đội và nhân dân. Nổi bật giữa những người lãnh đạo cuộc kháng chiến ấy là Trần Quốc Tuấn – vị tướng tài ba được giao trọng trách Quốc công Tiết chế, thống lĩnh quân đội.
Ngay từ cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ nhất năm 1258, Trần Quốc Tuấn đã tham gia công việc quân sự ở vùng biên giới Tây Bắc. Đến các cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288, ông giữ trọng trách Quốc công Tiết chế, thống lĩnh toàn quân chống giặc.
Điều làm nên tầm vóc của Trần Hưng Đạo không chỉ nằm ở tài thao lược trên chiến trường. Ông còn đặc biệt coi trọng việc xây dựng ý chí chiến đấu và lòng yêu nước của quân sĩ. Trong thời điểm đất nước đứng trước hiểm họa ngoại xâm, ông đã cùng triều đình nhà Trần củng cố sức mạnh quân đội, phát huy tinh thần đoàn kết và dựa vào sức dân để tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập.
Những cuộc chiến với quân Nguyên – Mông là những cuộc đối đầu vô cùng khốc liệt. Quân Đại Việt không lựa chọn cách đối đầu máy móc với một đạo quân đông và mạnh hơn về nhiều mặt. Nghệ thuật quân sự thời Trần thể hiện ở khả năng chủ động lựa chọn thời cơ, địa hình, cách đánh phù hợp và biết phát huy sức mạnh của toàn dân.
Đỉnh cao trong tài năng quân sự của Trần Hưng Đạo là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
Sau khi tiến vào Đại Việt, quân Nguyên – Mông gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân nhà Trần. Đến năm 1288, trước tình thế bất lợi, quân Nguyên tổ chức rút lui. Đạo quân thủy do Ô Mã Nhi chỉ huy đi qua sông Bạch Đằng – nơi có địa thế đặc biệt thuận lợi để quân Đại Việt tổ chức trận quyết chiến.
Trần Hưng Đạo đã cùng các tướng lĩnh nghiên cứu địa hình, thủy triều và xây dựng trận địa cọc trên sông. Những chiếc cọc gỗ được cắm xuống lòng sông khi nước triều rút. Khi nước dâng, trận địa được che khuất; đến lúc thủy triều rút, những cọc nhọn hiện lên, biến lòng sông thành một trận địa hiểm hóc đối với chiến thuyền địch.
Quân Đại Việt tổ chức nhử quân Nguyên tiến sâu vào trận địa. Khi thời cơ đến, nước triều rút mạnh, các chiến thuyền quân Nguyên bị mắc vào bãi cọc. Quân ta từ nhiều hướng đồng loạt tiến công. Một đạo quân xâm lược hùng mạnh bị đẩy vào thế hỗn loạn và thất bại thảm hại. Nhiều chiến thuyền bị phá hủy, các tướng lĩnh quan trọng của quân Nguyên bị bắt.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là một trong những chiến thắng tiêu biểu nhất của lịch sử chống ngoại xâm Việt Nam. Những cọc gỗ còn được phát hiện tại khu vực Bạch Đằng trở thành những chứng tích vật chất quý giá, giúp hậu thế hình dung rõ hơn về nghệ thuật quân sự đặc sắc của quân dân Đại Việt thời Trần.
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã đi qua lịch sử không chỉ với tư cách một vị tướng tài mà còn như một biểu tượng của lòng trung nghĩa, ý chí bảo vệ non sông và nghệ thuật dùng binh xuất chúng.
Hơn bảy thế kỷ đã trôi qua, nhưng tiếng vang của những chiến thắng dưới sự chỉ huy của ông vẫn còn vọng mãi. Từ những bãi cọc Bạch Đằng đến những trang sử hào hùng của nhà Trần, hình tượng Trần Hưng Đạo vẫn đứng sừng sững như một biểu tượng của tinh thần Việt Nam: khi Tổ quốc lâm nguy, toàn dân đồng lòng, quyết tâm giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của cha ông.
Tên tuổi Hưng Đạo Đại Vương vì thế không chỉ thuộc về quá khứ. Đó còn là lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay về lòng yêu nước, trách nhiệm với quê hương và sức mạnh của ý chí đoàn kết dân tộc.



