Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: Thuận hòa vì nghiệp lớn
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhà Trần đã phải chịu không ít long đong trước khi trở thành triều đại tiếp nối nhà Lý trị vì đất Việt. Và khi đã là hoàng tộc rồi, trong nội bộ nhà Trần cũng liên tiếp xuất hiện những mâu thuẫn lắm khi cực kỳ gay gắt. Thế nhưng, chính nhờ biết cách vượt lên trên hiềm khích và mâu thuẫn để “kết đoàn lại chúng ta là sức mạnh” mà nhà Trần đã trở thành một trong những triều đại lập được nhiều chiến công hiển hách nhất trong lịch sử nước ta.
Không cố chấp
Ngay trong triều đại đầu tiên của nhà Trần đã xảy ra một chuyện tày đình khiến vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và người anh ruột Trần Liễu bỗng dưng phải ở vào thế rất khó nhìn mặt nhau. Số là, Trần Liễu vốn lấy vợ là công chúa Thuận Thiên (tên húy là Oanh), con gái cả của vua Lý Huệ Tông với hoàng hậu Trần Thị Dung (bà Trần Thị Dung cũng là cô ruột của Trần Liễu). Hai người đã có một người con trai tên là Trần Doãn, không rõ năm sinh (Trần Liễu còn là cha của Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung, sinh năm 1230; Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1232; Trần Thị Thiều, tức Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, vợ vua Trần Thánh Tông, mẹ đẻ vua Trần Nhân Tông).
Tới năm 1237, Thuận Thiên lại có mang một người con trai. Trong khi đó, Hoàng hậu Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng), vợ vua Trần Thái Tông, sau khi sinh được một con là hoàng tử Trần Trịnh (chết yểu năm 1233), gần 10 năm sau mà mãi vẫn không thể hoài thai lại được. Để bảo vệ quyền lợi của dòng họ, Thái sư Trần Thủ Độ cùng công chúa Thiên Cực (vốn là Hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông nhưng năm 1226 đã bị giáng xuống gả cho Trần Thủ Độ) đã bàn tính với nhau buộc Trần Liễu phải để cho Thuận Thiên (lúc này đang có mang ba tháng) trở thành Hoàng hậu, thay cho Chiêu Thánh bị giáng xuống làm công chúa.
Tức giận vì bị mất vợ cho chính người em ruột, Trần Liễu đã dấy binh ra sông Cái làm loạn. Bản thân nhà vua cũng cảm thấy rất áy náy trong lòng, nhưng đã ngồi ngôi cao thì phải coi việc nước lớn hơn việc nhà. Dẫu vậy, vua Trần Thái Tông vẫn rất xót anh trai. Chính vì thế nên hai tuần sau đó, khi tự lượng sức mình đem trứng chọi với đá, Trần Liễu đã bí mật đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá tìm tới chỗ nhà vua xin “chín bỏ làm mười”, vua Trần Thái Tông đã rưng rưng nước mắt nhìn anh. Thậm chí ngay cả khi ông chú họ nghiêm khắc tới tàn nhẫn Trần Thủ Độ (cha Trần Thủ Độ là ông Trần Hoằng Nghi, là em ruột ông Trần Lý, mà ông Trần Lý lại là cha ông Trần Thừa, và ông Trần Thừa là cha của Trần Liễu và Trần Cảnh) khi hay tin hầm hầm xông tới rút gươm đòi chém Trần Liễu, vua Trần Thái Tông đã lấy thân mình ra che cho anh và tìm cách hòa giải… Rồi nhà vua còn cho anh mình lấy các vùng Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay thuộc hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) làm đất thang mộc. Trần Liễu về sau có tên hiệu Yên Sinh vương là nhờ thế.
Tất nhiên, Trần Liễu không bao giờ nguôi ngoai nỗi đau bị mất vợ cho chính người em trai, nhưng ít ra, ông đã không làm điều gì náo động thêm để ảnh hưởng xấu tới việc triều chính. Về sau, ông chỉ âm thầm thổ lộ tâm sự của mình với người con trai mà ông cho là tài ba lỗi lạc nhất của mình là Trần Quốc Tuấn.
Biết phận, không ham ngôi báu
Trở thành vợ của người em ruột chồng cũ chỉ dăm sáu tháng, cuối năm 1237, hoàng hậu Thuận Thiên đã sinh ra Trần Quốc Khang và người này được coi như là con trưởng của vua Trần Thái Tông. Tháng 9/1240, Hoàng hậu Thuận Thiên lại sinh hạ một người con trai khác với chính nhà vua là Trần Hoảng và tiếp theo, tháng 10/1281, sinh hạ Trần Quang Khải.
Tiếng là con trưởng nhưng Trần Quốc Khang đã không được trở thành thái tử. Ngôi vị này đã được dành cho người con trai thực sự của hoàng hậu Thuận Thiên và vua Trần Thái Tông là Trần Hoảng. Năm 1258, vua Trần Thái Tông đã nhường ngôi cho thái tử Trần Hoảng, lúc này đã 18 tuổi, tức vua Trần Thánh Tông, còn mình lên làm Thái Thượng hoàng.
Sách sử chép rằng, Trần Quốc Khang trong hoàn cảnh đó đã rất hiểu đời và thời thế nên luôn cảm thấy thoải mái trong mọi mối quan hệ. Nếp sống trong gia tộc nhà Trần thời đó khá hồn nhiên và gần gũi. Quốc Khang thường cùng vua em đùa chơi ngay cả trước mặt Thượng hoàng. "Đại Việt sử ký toàn thư" kể, một lần, mùa đông tháng 10/1268, khi Thượng hoàng đang mặc áo bông trắng, Quốc Khang múa kiểu người Hồ rất duyên nên được cha cởi áo đó ban cho. Vua em thấy anh được áo cũng nhảy ra múa kiểu người Hồ để vòi Thượng hoàng “chia cho đều, kêu cho sòng”.
Thấy vậy, Quốc Khang bèn nói: "Quý nhất là ngôi vua, tôi đã không tranh với chú hai rồi, nay đức chí tôn cho tôi thứ nhỏ mọn này mà chú hai cũng muốn cướp sao?". Thượng hoàng nghe vậy cả cười, khen Quốc Khang coi ngôi vua cũng chỉ ngang bằng tấm áo xoàng mà thôi…
Hiểu rõ năng lực và hoàn cảnh riêng của mình, nên Trần Quốc Khang không bao giờ khác ý với vua Trần Thánh Tông, mặc dù người cha thực của ông (Trần Liễu) cho tới phút lâm chung vẫn đau đáu một niềm phục hận. Vua Trần Thánh Tông cũng đánh giá rất cao thiện ý của ông anh thực chất chỉ cùng mẹ nhưng khác cha này và đã đối xử với Trần Quốc Khang một cách hậu hĩnh, dù biết rằng ông không phải là người có tài kinh bang gì nhiều lắm. Tháng 9/1269, Trần Quốc Khang được phong làm Vọng Giang Phiêu kỵ đô thượng tướng quân. Tháng 3/1270, ông được cử đi giữ việc cai trị Diễn Châu. Nghe nói, tại đó ông đã cưới một bà vợ lẽ rất đẹp. Ông mất năm 1300.



