Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng
Đức Ông Cửa Suốt
Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng
Đức Ông Cửa Suốt
Toạ lạc trên đồi khu A9, hướng ra Vịnh Bái Tử Long, Đền Cửa Ông (hay còn được gọi là Đông Hải Linh Từ) là nơi gắn liền với sự tích Đức Ông Quốc Khảo Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Đọc về ông, ta càng thấu hiểu hơn tấm lòng của người con cương dũng, bộc trực của Nhà Trần, người đã đóng góp những chiến công hiển hách trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
Trần Quốc Tảng (1252 – 1313), là một tôn thất hoàng gia, tướng lĩnh quân sự Đại Việt thời Trần. Ông là con trai thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành Công chúa. Ông là người cùng cha và các anh em chỉ huy quân dân đánh tan quân Nguyên - Mông xâm lược vào thời Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Vốn có cha là nguyên soái lừng lẫy đời nhà Trần, ông được thừa hưởng khí chất khảng khái, anh dũng, cứng cỏi của cha. Chính sử không ghi chép nhiều về ông, nhưng bên cạnh đó những điển tích dân gian của nhân dân đã tạc nên cuộc đời và sự nghiệp đẹp đẽ của một trong những tướng lĩnh tài ba của triều đại mang đậm dấu ấn “Hào khí Đông A”.
Nói về sự nghiệp cầm binh của ông, sử sách chép: Tháng 12 âm lịch năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284), quân Nguyên Mông xâm lược Đại Việt lần thứ 2. Được tin đại quân do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy thua các trận đánh ở biên giới và rút về Vạn Kiếp, vua Trần sai Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng cùng Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, Minh Hiến Vương Trần Quốc Uất và Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện đốc suất 20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của Hưng Đạo vương để chống quân Nguyên.
Năm 1297, vua Trần Anh Tông cử ông đem quân đi đánh sách Sầm Tử. Thời Trần Anh Tông, Hưng Nhượng vương rất ghét Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung, mỗi khi thấy Khắc Chung thì mắng phủ đầu: "Thằng này là điềm chẳng lành đối với nhà nước. Họ tên nó là Trần Khắc Chung thì nhà Trần rồi mất về nó chăng?". Khắc Chung thường sợ hãi né tránh. Trần Khắc Chung tên thật vốn là Đỗ Khắc Chung, do thành công trong lần thương thuyết với Ô Mã Nhi ở cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần hai (1285) nên được vua Nhân Tông ban quốc tính, đổi thành Trần Khắc Chung. Về mối thù giữa Quốc Tảng và Khắc Chung, qua ghi chép và phê phán của Đại Việt sử ký toàn thư, ta có thể đoán định qua các nguyên do: một là, Khắc Chung vốn là người tỏ vẻ, hay giả vờ, hay làm chuyện khác thường để thu hút chị em công chúa; hai là, ông ta thường xuyên đánh bạc với học sĩ Nguyễn Sĩ Cố, đánh thâu đêm suốt sáng không ngủ; ba là, trong lần cứu Huyền Trân công chúa, ông ta đã tư thông với công chúa trên hành trình trên biển về Kinh thành.
Trong lịch sử từng tồn tại điển tích về Trần Quốc Tảng như sau: Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra có một thầy tướng xem và bảo: "Người này ngày sau có thể giúp nước cứu đời". Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ. Yên Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh Vương cầm tay Quốc Tuấn giối giăng rằng: "Con mà không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được". Quốc Tuấn ghi để điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.
Một lần nọ, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi". Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người.
Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”. Hưng Vũ Vương trả lời: “Dẫu có khác họ cũng còn không nên, huống chi là cùng một họ”. Quốc Tuấn ngầm cho là phải.
Lại một hôm, Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”. Quốc Tuấn rút gươm kể tội: "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra", định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”. Trần triều hiển thánh Chính kinh tập biên chép: “Quốc Tuấn cho rằng, con trai tính ưa cương dũng ấy (tức Trần Quốc Tảng), không theo đúng đạo làm con, bèn nổi giận lôi đình, đày ra cửa bể Suất Ti Tuần thuộc phủ Hải Ninh, lộ An Bang”.
Thế nhưng, xoay quanh điển tích này, cũng có nhiều nghi vấn được đưa ra. Một là, phải chăng có quá khó tin không khi Hưng Đạo Đại Vương lại đem câu hỏi mang tính phản nghịch này ra hỏi Yết Kiêu và Dã Tượng, và hơn thế lại để cho “người chép sử” được biết, như vậy há chẳng phải nếu lộ ra sẽ thật tai tiếng hay sao?; hai là, nếu Quốc Tuấn thực sự ghét con đến mức không muốn nhìn mặt thì khó mà để triều đình tiếp tục trọng dụng con trai, để Quốc Tảng tiếp tục nắm binh quyền. Thời gian này rất có thể xảy ra trong lần xâm lược thứ hai của quân Nguyên Mông (1285), khi “vận nước lung lay”, nên nếu có việc Hưng Đạo Vương vì những lời nói bộc trực kia mà đày Trần Quốc Tảng ra cửa bể Suất Ti như Trần triều hiển thánh Chính kinh tập biên chép, thì cũng là lòng thương muốn tránh họa cho con và gia quyến. Với tầm nhìn xa trông rộng của mình, ông hiểu câu nói ấy của con sẽ gây hoạ lớn thế nào, và hiểu vùng Cửa Suốt xa xôi, hiểm yếu, thưa thớt dân cư, gần biên giới sẽ là nơi phù hợp cho Quốc Tảng thể hiện được sức mạnh tài năng của con một vị tướng đầu triều, đồng thời có không gian, có đất để thể hiện tài năng báo đáp triều đình, cũng như tránh được các thế lực ở Thăng Long.
Bị cha từ mặt và phạt đày ở lộ An Bang hiểm yếu, Quốc Tảng không những không oán hận cha, hay khăng khăng cho rằng ý kiến mình đúng mà nổi lòng phản loạn, mà dốc hết sức bảo vệ vùng Cửa Suốt, và xin “lập công chuộc tội” bằng việc xung phong chỉ huy trận mạc trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba. Đặc biệt, trong chiến thắng Vân Đồn - Cửa Lục, ông đã cùng Trần Khánh Dư chỉ huy, đánh tan đạo quân tiếp lương của Trương Văn Hổ từ phương Bắc tới, mở ra cục diện mới, dẫn đến chiến thắng vang dội của quân, dân Đại Việt.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Trong cuộc kháng Nguyên lần thứ ba (năm 1288) và kết thúc thắng lợi năm 1289, Trần Quốc Tảng đã được định công và tiến phong Tiết độ sứ, cho thấy ông đã nhận được sự tin tưởng trở lại của Hưng Đạo Vương và của triều đình. Lần này, ông được giao trọng trách trấn giữ vùng Cửa Suốt. Từ năm 1288 đến khi qua đời, phần lớn thời gian Trần Quốc Tảng giành cho việc trấn giữ vùng Đông Bắc này của Tổ quốc. Do những công lao to lớn mà vua Trần Anh Tông (đồng thời cũng là con rể của Trần Quốc Tảng), phong tước hiệu Hưng Nhượng Vương.
Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, lần đầu bị tội mà Trần Quốc Tảng bị cha đày ra Cửa Suốt. Lần thứ 2, nhờ lập được công lớn, Trần Quốc Tảng lại được vua Trần cử ra Cửa Suốt trấn giữ. Hai lần trấn giữ Cửa Suốt với hai tư thế, hai thể thức khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một trọng trách giữ gìn một nơi quan ải Đông Bắc. Có thể nói, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng là người có nhiều gắn bó và tình cảm sâu sắc với vùng đất và con người vùng An Bang, và được nhân dân nơi đây yêu kính.
Trong dân gian còn lưu truyền về những ngày cuối đời của Trần Quốc Tảng ở Cửa Suốt như sau:
"Ông ra Cửa Suốt được ba ngày, tự nhiên trời mưa to, gió lớn, sấm sét nổ ầm ầm. Ông thấy một phiến đá to bèn ngồi lên. Ngay lúc đó sóng nổi cuồn cuộn, nước dâng lên rất cao. Phiến đá tự nổi trên mặt nước, Hưng Nhượng Vương hóa thân ở đó, vào ngày 16/8/1311. Một lúc sau mưa tịnh, gió lặng, dân chúng kéo đến xem, thấy trên phiến đá có một cái mũ đá, mũ đá trôi đi. Ngày 1/9 năm ấy, mũ đá trôi đến địa giới Hàm Giang, rồi đến bờ sông xã Trúc Châu (tên tục là Vườn Nhãn). Già trẻ, lớn, bé trong xã đang đêm hôm đó mộng thấy một người cân đai, áo mũ chỉnh tề, đứng ở đình làng bảo rằng: "Ta là Gia Tướng nhà Trần, nay số đã hết, lại trở về đóng nơi đồn cũ giữ yên dân, nước" . Hôm sau, dân chúng ra đình xem, thấy một tảng đá và một mũ đá bên bờ sông. Đo phiến đá được 5 thước 4 tấc, ngang 2 thuớc 3 tấc, có 5 màu huyền ảo như mây. Dân làm lễ đón mũ đá về lập miếu thờ và làm biểu tâu lên vua Trần Anh Tông. Vua thấy Trần Quốc Tảng là người có công, lại linh ứng nên truyền cho lập miếu thờ và phong cho làm Thượng đẳng Phúc Thần, cho 800 quan tiền công hàng năm hai mùa cúng tế vào bậc Nhà nước.".
Về vấn đề này, vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh nơi Hưng Nhượng Vương “hoá”, hiển linh và năm ông mất. Một số ghi chép cho rằng, ông đóng đồn và có binh lính tại vùng Vườn Nhãn, tức Cẩm Phả, Quảng Ninh ngày nay, nhưng điển tích khác lại viết, nơi ông đóng đồn lại là vùng Vườn Vải, thuộc vùng Hải Dương ngày nay. Các địa phương như Cẩm Phả (Quảng Ninh) hay Nam Sách (Hải Dương) đều có truyền thuyết và đền thờ riêng ghi lại cái chết và sự hiển linh của ông, và việc ông được sắc phong là Thượng Đẳng Phúc Thần. Về năm ông mất, Đại Việt sử ký toàn thư lại ghi chép khác: Hưng Nhượng Vương mất năm 1313, thọ 61 tuổi.
Năm 1314, đúng một năm sau Trần Minh Tông lên ngôi, đã truy tặng Trần Quốc Tảng chức Thái úy.
Nhân dân truyền tụng ca ngợi Trần Quốc Tảng như sau:
"Đời Trần thị mở mang Nam Hải
Đức Đệ Tam dòng dõi kim chi,
Mấy phen giáp mã truy chùy,
Đã bình Phạm đảng lại đi phạt Sầm.
Phong Đại Vương an tâm thần chức
Lại đem câu yến dực ra bàn.
Nghĩa rằng đạo hiếu chu toàn.
Nào ngờ phải bước tiếng oan ở đời.
Dạ gang tấc khổ bày khúc trực
Để thanh thiên vằng vặc sáng soi.
Mấy năm tính kế cùng ai.
Đành rằng đem xuống Tuyền đài cho cam."
Một số quan điểm cho rằng, sinh thời Trần Quốc Tảng không hề đóng quân ở vùng Cửa Ông ngày nay, và ông cũng chưa từng đặt chân đến nơi này dựa trên ghi chép về các địa phận nơi ông cùng ba anh em đốc suất quân lính như Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn (Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Giang ngày nay) và đưa ra ý kiến rằng rất có thể người dân nơi đây đã nhầm lẫn ông với Hưng Ninh Vương - Tiết độ sứ Trần Tung - người được phân phong thực ấp ở Tịnh Bang (nay thuộc Quảng Ninh). Tuy nhiên, vì chính sử không có nhiều ghi chép kỹ lưỡng về ông, nên cho đến nay, cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn nhiều ẩn số.
Có thể nói, dẫu lần “lỡ lời” của ông có thật thì Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng vẫn là một tướng lĩnh kiên trung, giữ gìn khí tiết, tận tuỵ với xã tắc, can trường, cương dũng, có khí chất khảng khái, tự tin vào tài năng của mình. Ông đã có một thời “hoa lửa” với những dấu ấn đậm nét trong lòng nhân dân, trong những giai thoại ly kỳ được người đời kể lại về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Đó là những thế mạnh mà chúng ta cần học tập và noi theo.



