HÙNG VƯƠNG – NGỌN ĐUỐC THIÊNG KHAI CƠ LẬP QUỐC VÀ CỘI NGUỒN TÂM LINH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Thời đại Hùng Vương chính là buổi bình minh rực rỡ, đặt viên gạch hồng đầu tiên cho nền móng sinh tồn và phát triển của giang sơn bờ cõi Việt Nam. Công lao vĩ đại nhất của các vị vua Hùng trước hết là công lao khai cơ lập quốc, quy tụ các bộ tộc lạc hậu để khai sinh ra nhà nước Văn Lang sơ khai – quốc gia đầu tiên khẳng định chủ quyền và định hình lãnh thổ của người Việt cổ.
ÙNG VƯƠNG – NGỌN ĐUỐC THIÊNG KHAI CƠ LẬP QUỐC VÀ CỘI NGUỒN TÂM LINH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trong tâm thức của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới, huyền thoại về đấng khai sinh luôn chiếm giữ một vị trí trang nghiêm và thiêng liêng nhất. Nếu người La Mã tự hào về anh em Romulus và Remus, người Trung Hoa tôn kính Tam Hoàng Ngũ Đế, thì người Việt Nam chúng ta suốt hàng ngàn năm qua luôn cúi đầu thành kính trước hình tượng Hùng Vương – những vị vương tổ đã đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nên nhà nước Văn Lang sơ khai. Hình tượng các vua Hùng không đơn thuần là một chương mở đầu trong sách giáo khoa lịch sử, mà đã hóa thân thành một biểu tượng văn hóa vĩnh cửu, một dòng chảy tâm linh cuộn chảy trong huyết quản của mỗi người con đất Việt. Nó nhắc nhở chúng ta về một cội nguồn cao quý và một sứ mệnh lịch sử thiêng liêng, đúng như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng xúc động viết trong trường ca Mặt đường khát vọng:
“Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”
Ngược dòng thời gian trở về buổi bình minh của lịch sử, hình tượng Hùng Vương hiện lên vừa huyền thoại, vừa hiện thực qua câu chuyện mang đậm màu sắc sử thi: huyền thoại "Bọc trăm trứng". Là con trưởng của đấng sùng lãm Lạc Long Quân và tiên nữ Âu Cơ, Hùng Vương mang trong mình sự kết hợp hoàn hảo giữa sức mạnh dũng mãnh của biển cả và nét thanh cao, khoáng đạt của núi rừng. Điển tích này không chỉ lý giải nguồn gốc của dân tộc mà còn gửi gắm một triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc về hai chữ "đồng bào" – những người cùng sinh ra trong một bọc. Chính từ cái nôi huyền thoại ấy, kinh đô Phong Châu (Phú Thọ ngày nay) đã được chọn làm nơi đóng đô của mười tám đời vua Hùng. Sự xuất hiện của vương triều Hùng Vương là một cột mốc vĩ đại, đánh dấu bước chuyển mình bão táp từ xã hội bộ lạc hoang sơ sang thời kỳ xã hội có tổ chức, có giai cấp và có chủ quyền lãnh thổ. Nhà thơ Chế Lan Viên từng ngợi ca tầm vóc ấy qua những vần thơ đầy tự hào:
“Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bậc anh hùng tì tay trên đất mẹ Văn Lang”
Giá trị của thời đại Hùng Vương không chỉ nằm ở những chiến công mở đất, mà còn rực rỡ ở một nền văn minh Đông Sơn phát triển vượt bậc. Dưới sự trị vì của các vua Hùng, người Việt cổ đã biết thuần hóa thiên nhiên, trị thủy để trồng lúa nước, biết đúc đồng, rèn sắt để chế tạo công cụ lao động và vũ khí giữ làng. Những chiếc trống đồng Đông Sơn với hoa văn chim lạc, giã gạo, chèo thuyền... chính là những cuốn "sử ký bằng đồng" lưu giữ trọn vẹn đời sống tinh thần và vật chất của cha ông. Thời đại ấy cũng là cái nôi sản sinh ra những truyền thuyết bất hủ, định hình nên hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam: đó là lòng hiếu thảo, sự sáng tạo qua truyện Bánh chưng bánh giầy; là ý chí kiên cường, sức mạnh tự cường chống ngoại xâm của một đứa trẻ ba tuổi trong Thánh Gióng; hay cuộc chiến trị thủy dai dẳng thể hiện khát vọng làm chủ thiên nhiên trong Sơn Tinh - Thủy Tinh. Qua những câu chuyện ấy, hình ảnh vua Hùng hiện lên thật gần gũi, bao dung – một người thủ lĩnh tinh thần vừa biết cùng dân cày ruộng, ăn chung một mâm bánh ngày Tết, lại vừa quyết liệt, kiên cường đứng đầu sóng ngọn gió để bảo vệ giang sơn.
Trải qua hơn bốn ngàn năm lịch sử với biết bao thăng trầm, chịu đựng ngàn năm Bắc thuộc và hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc, tinh thần Hùng Vương chưa bao giờ bị dập tắt. Ngược lại, nó giống như mạch nước ngầm kiên cường, càng gặp bão giông càng trở nên mạnh mẽ. Ngày mùng mười tháng ba âm lịch hằng năm đã vượt qua ranh giới của một ngày lễ bái thông thường để trở thành ngày Giỗ Tổ Hùng Vương – một hiện tượng văn hóa độc nhất vô nhị trên thế giới đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Câu ca dao thấm đẫm tình nghĩa:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba”

Chính là chiếc la bàn tâm linh hướng muôn triệu trái tim người Việt, dù ở vùng đồng bằng chật hẹp, nơi biên cương hẻo lánh hay ở những góc trời xa xôi bên kia đại dương, đều cùng nhìn về một hướng: đỉnh núi Nghĩa Lĩnh mờ sương khói. Ý thức hướng về cội nguồn ấy là chất keo kết dính, tạo nên sức mạnh dời non lấp bể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Lịch sử hiện đại đã chứng minh, tinh thần cội nguồn ấy chính là bệ phóng cho những chiến thắng vĩ đại. Ngày 19 tháng 9 năm 1954, đứng trước Đền Hùng linh thiêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một lời căn dặn bất hủ cho Đại đoàn Quân Tiên Phong: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời căn dặn ấy không chỉ là mệnh lệnh hành động cho thế hệ bấy giờ, mà còn là lời hứa danh dự của cả một dân tộc đối với tổ tiên qua khắp các thời đại.
Thời đại Hùng Vương chính là buổi bình minh rực rỡ, đặt viên gạch hồng đầu tiên cho nền móng sinh tồn và phát triển của giang sơn bờ cõi Việt Nam. Công lao vĩ đại nhất của các vị vua Hùng trước hết là công lao khai cơ lập quốc, quy tụ các bộ tộc lạc hậu để khai sinh ra nhà nước Văn Lang sơ khai – quốc gia đầu tiên khẳng định chủ quyền và định hình lãnh thổ của người Việt cổ. Không chỉ là những bậc quân vương anh minh thiết lập bộ máy quản lý xã hội, các vua Hùng còn là những người thầy vĩ đại của nhân dân khi có công trị thủy, dạy dân khai hoang, trồng lúa nước và phát triển các nghề thủ công truyền thống mà đỉnh cao là kỹ thuật đúc trống đồng Đông Sơn vang vọng núi sông. Trong suốt mười tám đời vua nối tiếp, các ngài chính là biểu tượng của ý chí tự lực tự cường, lãnh đạo trăm họ đập tan mọi thế lực ngoại xâm phương Bắc để giữ gìn bờ cõi non sông độc lập. Tuyệt vời hơn, thời đại của các vua Hùng đã tạo tác nên chiếc nôi văn hóa thiêng liêng, định hình hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam từ lòng hiếu thảo, tình yêu lao động đến tinh thần đại đoàn kết qua hai chữ "đồng bào" thiêng liêng. Đúng như lời khẳng định bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Các vua Hùng đã có công dựng nước", công ơn sâu dày của các ngài chính là cội nguồn tâm linh, là mạch nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua ngàn năm giông bão để trường tồn cùng thời gian.
Là một người trẻ bừng cháy khát vọng đang sống trong kỷ nguyên số, khi đứng trước tượng đài uy nghiêm của các vị vua Hùng và lắng nghe lời dặn dò của Bác Hồ, tôi không khỏi xúc động và tự vấn về trách nhiệm của bản thân. Tôi nhận ra rằng, dòng máu rồng tiên đang chảy trong huyết quản mình không chỉ là một niềm tự hào, mà còn là một sứ mệnh. "Giữ nước" ngày hôm nay không còn giới hạn trong khói lửa bom đạn, mà là cuộc chiến chống lại sự tụt hậu về tri thức, nghèo nàn về công nghệ và sự phai nhạt về bản sắc văn hóa trước làn sóng toàn cầu hóa ào ạt.
Ý thức được điều đó, bản thân tôi tự nhủ phải biến lòng biết ơn thành hành động cụ thể mỗi ngày. Trước hết, đó là nhiệm vụ học tập và không ngừng làm giàu tri thức. Tôi cần chủ động tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến của nhân loại, rèn luyện tư duy phản biện và kỹ năng toàn cầu để trở thành một công dân có ích, góp phần đưa đất nước "sánh vai với các cường quốc năm châu". Bên cạnh đó, giữ nước còn là giữ gìn và lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp. Tôi tự nhắc nhở mình phải yêu kính tiếng mẹ đẻ, trân trọng những nét đẹp truyền thống từ chiếc áo dài, chiếc bánh chưng ngày Tết, đến những câu chuyện lịch sử hào hùng của cha ông, quyết không để mình hòa tan giữa dòng chảy văn hóa ngoại lai. Cuối cùng, đó là việc nuôi dưỡng lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Sống đúng với tinh thần "đồng bào", tôi sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động tình nguyện, sẵn sàng sẻ chia với những mảnh đời khó khăn, cùng chung tay bảo vệ môi trường và xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái.
Nhìn lại quá khứ để vững bước tới tương lai, hình tượng Hùng Vương mãi mãi là ngọn đuốc thiêng soi sáng con đường đi của dân tộc. Thời đại các vua Hùng đã lùi xa vào sương khói của huyền thoại, nhưng linh hồn của thời đại ấy – tinh thần đại đoàn kết, tình yêu lao động và lòng yêu nước nồng nàn – vẫn sẽ sống mãi. Là những người thừa kế gia tài tinh thần đồ sộ ấy, thế hệ trẻ chúng tôi nguyện viết tiếp những trang sử hào hùng bằng trí tuệ, mồ hôi và khát vọng của tuổi trẻ, để ngọn lửa Phong Châu ngàn năm chưa bao giờ tắt và để hai tiếng "Việt Nam" luôn vang danh trên trường quốc tế với tất cả niềm tự tôn.



