Bài viết

Huyện Tháp Mười

Đồng Tháp03/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nằm trong vùng ngập sâu của vùng ĐTM thuộc T.Đồng Tháp, được tách ra từ huyện Cao Lãnh vào ngày 05/01/1981. Ngày 6/3/1984, giải thể các x. Mỹ An, Mỹ Hòa, Đốc Binh Kiều, Thanh Mỹ để thành lập 6 xã mới là Mỹ Hòa, Tân Kiều (Tân Kiều), Đốc Binh Kiều, Phú Điền, Thạnh Mỹ, Mỹ An và tt.Mỹ An. Ngày 23/9/1997, tách x.Hưng Thạnh để lập x.Thạnh Lợi, đến năm 1999, lập x.Láng Biển. Từ cuối năm 2004, H.TM có 12 xã và tt.Mỹ An. Huyện ở trung tâm của Đồng Tháp Mười với diện tích tự nhiên 528km²; phía bắc giáp H.Vĩnh Hưng (T.Long An) và H.TN, phía đông giáp H.Tân Thạnh (T.Long An), phía tây và tây-nam giáp H.CL, phía nam và đông-nam giáp H.Cái Bè (T.Tiền Giang).

Vùng Tháp Mười gắn liền với quá trình hình thành và phát triển ĐTM nên được người Việt biết đến khá sớm, từ thế kỷ thứ XVII đã hình thành nhiều cụm dân cư. Nguyễn Cư Trinh tiếp thu hai phủ Lôi Lạp và Tầm Bôn (năm 1755) và vùng đất Tầm Phong Long, lập nên Đông Khẩu Đạo (năm 1757), tạo điều kiện cho sự phát triển của người Việt ở vùng ngoại vi ĐTM (Tây Ninh, Tân An, Mỹ Tho) và dọc theo sông Tiền từ Cái Bè (Mỹ Tho), lên Cao Lãnh (Sa Đéc) và Hồng Ngự (Châu Đốc, nay thuộc T.Đồng Tháp). Trung tâm ĐTM lúc bấy giờ còn hoang vắng, hiểm trở, chưa có nhiều người Việt sinh sống. Vào đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã sớm khai thác vùng đất phương Nam, nhiều đồn điền được lập ra từ thời Gia Long. Những đợt di dân liên tiếp làm cho nhịp độ phát triển vùng ĐTM ngày một gia tăng, cơ cấu hành chính dần hình thành, số thôn, ấp cũng tăng lên nhanh chóng. Từ đầu triều Nguyễn (năm 1802) đến khi quân Pháp xâm lược (năm 1858), có nhiều sự kiện tác động mạnh mẽ đến vùng ĐTM (lúc ấy, vùng này được gọi là chằm Mãng Trạch hoặc Lâm Tấu): các cuộc hành quân chặn giặc ở biên giới, đánh quân Xiêm vào những năm 1833 - 1834, cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi (1833 - 1835),...

Sau khi thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông thì Tháp Mười là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân do Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều chỉ huy, trung tâm đặt tại Gò Tháp. Với sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân Tháp Mười, từ căn cứ này, nghĩa quân liên tục tiến công, làm cho quân Pháp phải khiếp đảm trong ba năm 1864, 1865 và 1866. Tháng 4/1866, thủy sư đô đốc De Lagrandière, chỉ huy cao nhất của Pháp ở Nam Kỳ, cho đại quân tấn công Gò Tháp, sau hơn một tuần mới triệt hạ được căn cứ nhưng phải trả một giá rất đắt.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ 2, Tháp Mười là căn cứ địa kháng chiến giữa lòng dân của Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ (1946 - 1949), Tỉnh ủy Tân An, Mỹ Tho, Long Châu Sa,...từng vang danh là "Việt Bắc của Nam bộ", "Thủ đô kháng chiến giữa bưng biền", "Vùng đất thánh của Cách mạng". Từ chiến khu ĐTM, Xứ ủy Nam Bộ, đứng đầu là Bí thư Xứ uỷ Lê Duẩn, đã lãnh đạo nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân lập nhiều chiến công vang dội, ĐTM trở thành "Mồ chôn quân Pháp". Cũng tại đây, Ủy ban Việt Minh (sau này hợp nhất với Hội Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt Nam Bộ), Xứ đoàn Thanh niên Cứu quốc, Đoàn Phụ nữ Cứu quốc, Hội Nông dân Cứu quốc Nam Bộ, Hội Phật giáo Cứu quốc, Hội Cao Đài Cứu quốc 12 phái hiệp nhất, Hội Công Giáo kháng chiến,... được thành lập. Trong các cuộc kháng chiến, nhân dân Tháp Mười đã vượt qua nhiều khó khăn, hy sinh, gian khổ, mất mát, lập nhiều chiến công lừng lẫy, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn