HUYỀN THOẠI 10 CÔ GÁI NGÃ BA ĐỒNG LỘC
Ngã ba Đồng Lộc đi vào lịch sử như một bản anh hùng ca về quyết tâm sắt đá tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc; về sự hy sinh cao cả của 10 cô gái thanh niên xung phong tuổi mười tám, đôi mươi.
Ngã ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận Đồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh, được mệnh danh là tọa độ chết,là núi bom mà Đế quốc Mỹ đã thả xuống.
Hôm ấy là ngày 24 tháng 7 năm 1968.Tiểu đội 4 thanh niên xung phong được lệnh trọng điểm ở khu vực mà địch vừa thả bom để san lấp hố bom sửa đường,kết hợp sửa chửa hầm trú ẩn khơi sâu rãnh thông nước để thông đường cho xe qua.
Tiểu đội 4 hôm ấy gồm 10 cô gái trẻ .Võ Thị Tần tập hợp tiểu đội của mình:
“Các đồng chí đoạn đường D2 đã bị thả bom,chúng ta phải quyết tâm sửa cho xong để tối hôm nay đón đoàn xe chở vũ khí vào Nam chiến đấu”
”RÕ!”
Nhận nhiệm vụ xong các cô gái gấp rút đến ngay hiện trường triển khai công việc. Họ làm việc không ngơi tay,vừa làm,vừa gọi nhau í ới, mỗ hôi vãi ra, bụi đất đỏ vẫn phủ trên đầu trên lưng mọi người,
Tần dừng tay cuốc nói vọng ra 2 hầm kế bên “Giải lao 10 phút nhơ”.
Các chị vừa vội xuống hang miệng hầm bỗng bầu trời như bị xé toang ra, bày phản lực Mỹ sập tới, tiếng đạn cao xạ nổ thất thanh. Những đống khói trắng vụt nở hoa bông trên nền trời xanh ngắt. Nhìn ra những đám khói ấy, thấy ngay được đường bay quỷ quyệt của lũ giặc trời. Các cô nhảy xuống những chiếc hầm đang làm dỡ.
Trong khoảnh khắc chỉ còn nghe thấy tiếng máy bay giặc gầm thét trên đầu, tiếng đạn cao xạ nổ xuống …sát…sàn…sàn
Tần xuống hầm sau cùng nói to:
“Giặc vẫn đang đánh đấy nha, bom nổ xong thì nhìn lên trời, thấy đất đá rơi thì bình tĩnh mà tránh.”
Tiếng của Tần vang đi xa, máy bay giặc lao tới, cất bom rồi tháo chạy. Một chùm bom, rồi lại một chùm bom, một quả bom đen trùi trũi như mũi tên lao thẳng xuống nơi Tần và đồng đội ngồi trong những chiếc hầm đang làm dỡ chiều nay.
Cột khói bom và bụi đỏ bùng lên ngay sát đường 15. Ngay cạnh nơi A4 làm, cột khói đất đá thành bụi dâng lên cao, cao mãi. Các đội viên của Võ Thị Tần đều không ngờ và không kịp nhìn lên, để tránh đất đá rơi trên đầu.
Bầu trời tối sầm lại.Lúc ấy là 16h40 phút chiều 24 tháng 7 năm 1968.
Cùng lúc ấy, Nguyễn Thế Linh đại đội trưởng C552 đang ở trên đài quan sát, thấy bom rơi trúng nơi A4 làm, anh lặng người rồi bất chấp máy bay địch còn quanh quẩn trên đầu, chạy thật nhanh xuống đường 15. Khói bom nơi A4 làm đã loãng nhưng không thấy còn ai.
Họ chỉ thấy anh chần chừ ngơ ngác nhìn thấy nơi bom vừa nổ. Anh không còn thấy một ai. Tuyệt nhiên anh thấy một chiếc non rách bươn nằm chơ vơ trên mặt đường 15. Nhưng Anh vẫn tin là A4 đang ẩn ở đâu rồi. Anh bắt loa tay gào thật to: “A4 mô rồi? A4 mô rồi? “
Chỉ có tiếng vang của núi vọng về. Tần ơi… anh gọi mấy câu nữa vẫn im lặng. Anh kêu lên:
“Các đồng chí ơi, A4.. A4 bị bom vùi hết rồi”. Nguyễn Thế Linh nói lặng cả tiếng: “Ta đào bới nhanh vào, may ra còn có ai sống hay chăng”.
Thấy những nhác cuốc, nhác xẻng hối hả bụp xuống, phá quanh bờ hố bom, Anh xót ruột kêu lên:
“Ta đào bới nhanh nhưng phải cẩn thận lỡ cuốc vào các đồng chí mình đó”. Đúng lúc này, anh lần nhác cuốc đâù tiên thì nhìn thấy cửa hầm. Một mái tóc đen hiện ra, mấy anh moi đất lên, thấy Võ Thị Tần đang ngồi trong tư thế nhìn máy bay, chân tay vẫn đang mềm nhưng tim ngừng đập hẳn, mạch tím ngắt.
Các đồng chí ở bên ngoài lần lượt ngả mũ, nón.
Thế là hết, Võ Thị Tần ở ngay ngoài cửa hầm còn vậy, các đồng chí ở bên trong thì sống làm sao.
Cứ thế tất cả mọi người nghiến răng nín khóc, lần lượt đưa các chị: Nhỏ, Hà, Rạng, Hường ra khỏi chiếc hầm lớn nhất. Họ kính cẩn nâng niu đặt thi hài của những đồng chí vừa hi sinh nằm thẳng một hàng ngay trên bãi cỏ ven đường.
Ngay sau đó, chiếc hầm thứ hai cũng đường tìm thấy các chị: Xuân , Hợi, Xanh người vẫn đang còn mềm và ấm. Mấy người vội làm hô hấp nhân tạo nhưng không thể nào cứu vãn được nữa. Muộn quá rồi, chỉ còn Hồ Thị Cúc là vẫn chưa tìm thấy. Anh chị em tiếp tục tìm kiếm. Sang ngày thứ hai, vẫn không thấy chị đâu. Đến ngày thứ ba, đồng đội làm lễ gọi hồn chị.
Tiểu đội đã xếp một hàng ngang
Cúc ơi, em ở đâu sao không về tập hợp
Chín bạn đã quây quần đủ mặt
Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em, chín bỏ làm mười răng được
Bọn anh đã bới tìm vét cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần biết
Chỉ sợ em đau nên nhác cuốc chùng
Cúc ơi em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm, da em xanh, áo em thì mỏng.
Cúc ơi, em ở đâu? Về với bọn anh tắm nước sông ngàn phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng, dắt trâu, cắt cỏ.
Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở, cơm chiều chưa ăn
Ở đâu hỡi Cúc, đồng đội tìm em đũa găm cơm cúc
Gọi em… gào em.. khàn cổ cả rồi… Cúc ơi.
Bài thở gọi hồn vừa kết thúc thì đồng đội tìm thấy chị trên đồi Trọ Voi cách hố bom cũ khoảng cừng 20m trong tư thế ngồi, dầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc. 10 đầu ngón tay bị ướm maú vì bới đất tìm đường ra.
Cả 10 cô gái trẻ đã hi sinh, đã từ biệt đồng đội, người thân chưa nhìn thấy cảnh đất nước hòa bình, độc lập. Các cô ra đi khi tuổi vừa mười tám, đôi mươi chưa một lần biết hương vị tình yêu.
Ghi nhận chiến công vẻ vang này, các chị đã được truy tặng danh hiệu anh hùng và được xây dựng tượng đài chiến thắng khu di tích lịch sử: Ngã ba Đồng Lộc, là nơi đã thành cái nôi nuôi dưỡng lòng yêu nước cho lớp lớp thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, để bắt kì ai lớn lên đều thấy mình phải có nghĩa vụ sống sao cho xứng đáng với những gì ma thế hệ cha anh đi trước đã làm cho đời sau. Câu chuyện của chúng em đến đây kết thúc. Một lần nữa em xin chúc các thầy cô giáo, quý ban giám khảo và các bạn học sinh sức khỏe. Chúc hội thi thành công tốt đẹp!



