HUYỀN THOẠI 81 NGÀY ĐÊM THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ 1972: CỰU CHIẾN BINH LÊ XUÂN TÙNG VÀ KÝ ỨC DÒNG SÔNG THẠCH HÃN
Mùa hè năm 1972, mảnh đất Thành cổ Quảng Trị nhỏ bé vỏn vẹn chưa đầy 3 ki-lô-mét vuông đã trở thành "túi bom của thế giới", hứng chịu hơn 328.000 tấn bom đạn – tương đương sức nổ của 7 quả bom nguyên tử. Trong suốt 81 ngày đêm đỏ lửa (28/06/1972 – 16/09/1972), hàng ngàn người lính tuổi mười chín, đôi mươi từ khắp các trường đại học, miền quê Bắc Bộ đã gạt phắt bút nghiên, dũng cảm vượt sông Thạch Hãn để bảo vệ từng tấc đất Thành cổ. Cựu chiến binh Lê Xuân Tùng là một trong những nhân chứng may mắn sống sót trở về từ "địa ngục trần gian" ấy, mang theo chiếc bình tông móp méo khắc dòng chữ bằng đầu lưỡi lê và lời thề canh giữ ký ức cho những đồng đội đã tan vào đáy sông.
1. Xếp bút nghiên lên đường ra chiến trường (Đầu năm 1972)
Mùa xuân năm 1972, khi đang là sinh viên năm thứ hai Khoa Cơ khí, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, chàng thanh niên Hà Thành Lê Xuân Tùng xếp lại sổ sách, viết đơn bằng máu xung phong nhập ngũ. Cùng đi với ông năm ấy là hàng ngàn sinh viên các trường Bách khoa, Tổng hợp, Sư phạm, Y khoa... Họ gác lại ước mơ hoài hoại trên giảng đường, khoác lên mình màu áo xanh thẫm của Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, hành quân vượt dãy Trường Sơn vào thẳng chiến trường Quảng Trị.
Bối cảnh Quảng Trị giữa năm 1972 vô cùng căng thẳng: Hội nghị Pari đang ở giai đoạn gay go trên bàn đàm phán. Để chiếm thế thượng phong, Mỹ - Ngụy tái chiếm Quảng Trị bằng chiến dịch "Tái chiếm Quảng Trị" với sự yểm trợ tối đa của không quân, hải quân Mỹ. Thị xã Quảng Trị và căn hầm Thành cổ trở thành điểm quyết chiến chiến lược giữa hai đầu chiến tuyến.
2. Đêm vượt sông Thạch Hãn và "địa ngục lò gạch" (Tháng 7/1972)
Đêm ngày 12 tháng 7 năm 1972, đơn vị của Lê Xuân Tùng nhận lệnh vượt sông Thạch Hãn tiến vào nội tre Thành cổ. Bờ Bắc sông Thạch Hãn rực sáng bởi pháo sáng và đạn vệt kim. Dòng sông hiền hòa chảy qua thị xã Quảng Trị bị xới tung bởi pháo hạm từ Biển Đông dội vào và bom B-52 từ trên không trút xuống.
Lê Xuân Tùng cùng đồng đội ôm súng, bơi vượt dòng sông chảy xiết dưới làn mưa pháo. Mỗi đợt sóng chồm lên là một lần pháo nổ, nước sông văng cao hàng chục mét. Ngay trong đêm vượt sông đầu tiên, tiểu đội 12 người của ông đã có 4 đồng đội bị mảnh pháo phạt ngang, chìm nghỉm vào dòng nước đỏ nặng phù sa.
Khi đặt chân lên bờ Nam, lọt vào lòng Thành cổ, cảnh tượng hiện ra trước mắt ông là một vương quốc của đổ nát và tro bụi. Toàn bộ tường gạch dày hàng mét của kiến trúc nhà Nguyễn bị san phẳng; không còn một cây xanh nào còn lá, tất cả đều bị gọt giũa cháy đen. Đất đá, gạch vụn nghiền nát trộn lẫn với vỏ đạn và xương máu chiến sĩ.
Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ chốt giữ góc tường thành phía Đông – nơi liên tục chịu các đợt tiến công sóng đôi của Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến Ngụy được xe tăng M48 dẫn đường.
"Ở Thành cổ, khái niệm ngày và đêm không còn nữa. Chỉ có tiếng gầm rống của động cơ B-52, tiếng pháo khoan đâm sâu xuống lòng đất rồi nổ tung, và khói độc cay xè mắt. Chúng tôi sống trong các đoạn hầm cào tản ngạn, bùn ngập đến bụng, ăn cơm nắm trộn lẫn mùi thuốc súng và mùi phế tích..." – Cựu chiến binh Lê Xuân Tùng hồi tưởng.
3. Trận đánh sinh tử ngày 15 tháng 8 năm 1972 và kỷ vật bình tông nhôm
Trận chiến bước vào giai đoạn thảm khốc nhất vào giữa tháng 8 năm 1972. Địch huy động tối đa pháo binh bắn phá liên tục 24/24 giờ để dọn đường cho lực lượng Biệt động quân đánh chiếm góc thành phía Đông.
Sáng ngày 15 tháng 8, sau 3 giờ đúp pháo dồn dập, một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến giặc có xe tăng yểm trợ tràn lên bốt chốt của Đại đội 3. Tiểu đội trinh sát của Lê Xuân Tùng chỉ còn lại 5 người. Ông cùng người bạn thân nhất – Nguyễn Văn Hà (sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội, quê ở Nam Định) – chốt giữ tại một đoạn hào sạt lở.
Khi một chiếc xe tăng M48 áp sát mép hào, Hà lao lên ôm quả bộc phá gạt xích xe tăng. Chiếc xe bị khống chế khói bốc nghi ngút, nhưng một quả đạn cối từ hướng địch bắn tới rơi ngay bên cạnh hố cá nhân. Nguyễn Văn Hà bị mảnh pháo găm ngang ngực.
Lê Xuân Tùng lao tới ôm lấy bạn. Trong vòng tay ông, Hà thào thào không thành tiếng, đôi tay run rẩy gạt chiếc bình tông nhôm đeo bên hông trao cho Tùng. Chiếc bình tông lúc này đã bị một mảnh bom xé rách một vệt ngấn nhôm, máu của Hà chảy tràn loang đỏ cả thân bình.
Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Hà nắm chặt tay Tùng dặn lại: "Tùng ơi... nếu sống trở về... về Hà Nội thăm mẹ giùm tớ... bảo mẹ tớ đã giữ trọn lời thề..."
Lê Xuân Tùng nén đau thương, giắt chiếc bình tông máu của bạn vào thắt lưng, gầm lên xả trọn băng đạn AK vào toán địch đang tràn qua mép hào, đẩy lùi đợt tiến công thứ 4 trong ngày của giặc. Cuối buổi chiều hôm đó, ông cũng bị thương nặng do mảnh pháo đâm xuyên mạn sườn, được đồng đội bò xuống ngầm đưa vượt sông Thạch Hãn sang bờ Bắc điều trị.
4. Trở về thời bình và lời thề với dòng sông Thạch Hãn (1975 – Nay)
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 30/04/1975, Lê Xuân Tùng trở về Hà Nội với thương tật 3/4. Ông tiếp tục hoàn thành chương trình đại học và trở thành một kỹ sư cơ khí. Nhưng suốt hơn 50 năm qua, ký ức về 81 ngày đêm Quảng Trị chưa từng nguôi khoai trong tâm trí ông.
Chiếc bình tông nhôm bị găm mảnh bom năm xưa được ông trân trọng đặt trong tủ kính phòng khách. Hằng năm, cứ đến dịp tháng 7 tri ân, cựu chiến binh Lê Xuân Tùng lại cùng những người đồng đội cũ Sư đoàn 325 bắt xe vào lại Quảng Trị.
Ông đứng bên bờ sông Thạch Hãn, lặng lẽ thả những nhành hoa hoa đăng xuống dòng nước trôi êm đềm, cất lên những câu thơ đẫm nước mắt của người cựu chiến binh Lê Báo:
"Đò ơi nhẹ mái chèo êm, Sông Thạch Hãn chèo khua nhẹ giữ. Đáy sông còn đó bạn tôi nằm, Phai tạc tuổi hai mươi sóng nước..."
Ông Tùng chia sẻ trong giọt nước mắt lăn dài trên nếp nhăn thời gian:
"Trong lòng đất Thành cổ và dưới đáy sông Thạch Hãn này, hàng ngàn đồng đội tôi vẫn đang nằm đó. Họ mãi mãi ở tuổi 20. Chúng tôi sống sót trở về không phải để lãng quên, mà để làm chiếc cầu nối nhắc nhở thế hệ hôm nay hiểu được cái giá của độc lập tự do."



