Anh hùng Lực lượng vũ trang

HUYỀN THOẠI CÁNH TAY BẤT TỬ VÀ KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP

Cà Mau22/10/2026Chi đoàn xóm Đồng Thái (Đoàn xã Tân Kỳ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mỗi giai đoạn lịch sử đều được khắc ghi bằng những chiến công hiển hách, được kết tinh từ mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của triệu triệu con người bình dị. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc là khoảng thời gian mà ngọn lửa lý tưởng bùng cháy rực rỡ, thiêng liêng và vị tha. vị tha như những năm tháng kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc. Đó là "thời hoa lửa" – khoảng thời gian mà thế hệ thanh niên tuổi mười tám, đôi mươi sẵn sàng gác lại bút nghiên, từ biệt mái trường, gia đình và những ước mơ xuân trẻ, dấn thân vào chốn đạn bom với lời thề son sắt: "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".

Chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950 là một khúc quanh lịch sử vĩ đại, mở ra bước ngoặt chiến lược đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ thế cầm cự, phòng ngự sang thế chủ động phản công trên chiến trường chính Bắc Bộ. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu đã vung lưỡi lê chặt đứt cánh tay giập nát của mình để kịp ôm trọn khối bộc phá lao lên dập tắt hỏa điểm cuối cùng của quân xâm lược.

Người chiến sĩ ấy là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu. Câu chuyện về cuộc đời và hành động phi thường của Anh hùng La Văn Cầu không đơn thuần là một chiến tích quân sự, mà là bài ca bi tráng về ý chí độc lập, lòng quả cảm vô song và sự lựa chọn của một thế hệ trọn đời dâng hiến cho non sông đất nước.

Anh hùng La Văn Cầu sinh năm 1931 tại bản thuộc xã Quang Trọng, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng – vùng đất Đông Bắc bốn mùa mây phủ, núi đá dựng đứng tai mèo. Ông là người dân tộc Tày, tên khai sinh thuở nhỏ là Sầm Phúc Hướng. Cuộc đời cậu bé Hướng luôn cơ cực, đói nghèo và nỗi đe dọa từ ách áp bức của binh lính Pháp cùng tay sai bản xứ.

Nỗi đau đớn lớn nhất ập đến với cuộc đời cậu khi người cha bị thực dân bắt đi phu, lao dịch khổ sai làm đường, xẻ núi phục vụ bộ máy chiến tranh của chúng. Người cha đã kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng nơi công trường khổ cực, vĩnh viễn không thể trở về mái nhà tranh xiêu vẹo. Người mẹ già nghèo khó cắn răng gánh vác cả gia đình, một mình nuôi con trong cảnh chạy ăn từng bữa, bữa khoai bữa sắn qua ngày.

Chính hoàn cảnh cơ cực và mất mát ấy đã gieo vào tâm khảm cậu bé Hướng hạt mầm căm thù sâu sắc đối với ách thống trị tàn bạo của giặc ngoại xâm. Cậu thấu hiểu tận cùng rằng, chừng nào bóng quân thù còn giày xéo trên mảnh đất quê hương, chừng ấy cuộc đời người dân nghèo vẫn còn chìm trong lầm than nô lệ.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thổi bùng ngọn lửa giải phóng đến từng bản làng vùng cao Việt Bắc. Niềm vui độc lập chưa tròn thì thực dân Pháp lại dã tâm quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dải biên cương lại sục sôi khí thế đánh giặc giữ làng.

Đến năm 1948, khi các phong trào tuyển quân diễn ra sôi nổi tại địa phương, ngọn lửa yêu nước trong lồng ngực người thiếu niên vùng cao bùng cháy dữ dội. Sầm Phúc Hướng nộp đơn xin nhập ngũ, nhưng lúc bấy giờ cậu mới chỉ vừa tròn 16 tuổi – chưa đủ tiêu chuẩn về độ tuổi và thể lực để biên chế vào bộ đội chủ lực. Không chịu lùi bước, cậu đã xin phép mẹ cho đổi họ tên và chủ động khai tăng thêm hai tuổi để được ghi danh tòng quân. Kể từ thời khắc ấy, cái tên La Văn Cầu chính thức ra đời, đánh dấu bước ngoặt cuộc đời một chàng trai miền núi bước vào hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông được tuyển mộ vào Trung đoàn 174 (Đoàn Cao - Bắc - Lạng) trực thuộc Sư đoàn 316 sau này, trở thành chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, mộc mạc và chân thành. Trong môi trường đầy ắp tình đồng chí đồng đội, được tôi luyện qua các khóa huấn luyện gian khổ và nhiều trận phục kích tao ngộ nhỏ lẻ, người chiến sĩ trẻ nhanh chóng trưởng thành về tư tưởng chính trị và bản lĩnh trận mạc. Càng hiểu sâu sắc về ý nghĩa của hai chữ "Độc lập", ông càng nguyện đem hết sức lực và tính mạng của mình để phụng sự Tổ quốc.

Năm 1950, cục diện chiến tranh Đông Dương có những bước chuyển biến căn bản. Để phá tan kế hoạch Rơve của Pháp nhằm phong tỏa biên giới phía Bắc, cô lập căn cứ địa Việt Bắc với hậu phương quốc tế xã hội chủ nghĩa, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950. Đây là chiến dịch quy mô lớn đầu tiên mà quân đội ta chủ động mở cuộc tiến công vào hệ thống phòng ngự kiên cố của địch. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận trực tiếp chỉ đạo, động viên bộ đội.

Cụm cứ điểm Đông Khê (nằm trên Quốc lộ 4, thuộc tỉnh Cao Bằng) được Bộ Chỉ huy Chiến dịch chọn làm mục tiêu mở màn có tính đột phá quyết định. Sở dĩ như vậy vì Đông Khê là vị trí phòng ngự yết hầu, nối liền Cao Bằng với Thất Khê, Lạng Sơn. Mất Đông Khê, toàn bộ tuyến phòng thủ then chốt Đường số 4 của Pháp sẽ bị chia cắt thành từng khúc cô lập, buộc địch phải đưa quân tiếp viện đến ứng cứu, tạo thời cơ cho ta đánh tiêu diệt vận động.

Biết rõ tầm quan trọng chiến lược này, thực dân Pháp đã biến Đông Khê thành một cụm cứ điểm khổng lồ, bao bọc bởi đồn bốt bê tông cốt thép kiên cố, hầm ngầm kiên cố, các lô cốt mẹ - con nhiều tầng cùng hệ thống hỏa lực đại liên, pháo binh và súng cối bố phòng đa tầng dày đặc. Quanh đồn là nhiều lớp hàng rào dây thép gai bùng nhùng, chông mìn cài ken dày đặc. Để hạ được Đông Khê đòi hỏi bộ đội ta phải có tinh thần dũng cảm phi thường và nghệ thuật đánh công kiên bền bỉ.

Đúng 6 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, pháo binh quân ta dồn dập nhả đạn vào các cứ điểm địch, mở màn trận đánh Đông Khê. Cuộc chiến giằng co, ác liệt diễn ra suốt hai ngày hai đêm dưới làn mưa đạn dày đặc và bom napalm từ máy bay địch dội xuống công sự. Quân địch điên cuồng dựa vào các hỏa điểm kiên cố trên cao để phản kích, gây cho các mũi tiến công của ta không ít tổn thất.

Đêm 17 rạng sáng ngày 18 tháng 9 năm 1950, Bộ Chỉ huy lệnh cho Trung đoàn 174 phối hợp cùng Trung đoàn 209 mở đợt tổng công kích quyết định vào trung tâm đồn địch. Lúc này, đồng chí La Văn Cầu giữ chức vụ Tiểu đội phó thuộc Đại đội 671, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174. Tổ của ông được giao nhiệm vụ vô cùng hiểm hóc: tổ chức xung kích đánh bộc phá mở đường, áp sát tiêu diệt lô cốt số 3 – cứ điểm hỏa lực then chốt của quân Pháp.

Màn đêm biên cương rực sáng bởi pháo sáng và những chớp lửa đạn. Dưới sự yểm trợ yếu ớt của hỏa lực bộ binh, tổ bộc phá do La Văn Cầu chỉ huy từng bước trườn qua các bãi đất trống lở loét hố đạn, luồn qua các lớp rào thép gai nham nhở. Địch bắn xối xả, từng đồng đội xung quanh ông lần lượt trúng đạn, ngã xuống trên mặt đất đầy mảnh kim loại sắc lẹm. La Văn Cầu nén đau thương, hai tay ghì chặt quả bộc phá nặng 12kg – thứ vũ khí duy nhất đủ sức bẻ gãy khối bê tông của quân thù.

Khi chỉ còn cách lô cốt số 3 chưa đầy vài chục mét, hỏa lực địch phát hiện hướng đột phá. Một tràng đạn đại liên chéo cánh sẻ quét tới. Một viên đạn xuyên thẳng vào cánh tay phải của La Văn Cầu, gây thương tích nặng nề. Cánh tay phải của ông gãy vụn xương, thịt nát tươm, chỉ còn dính lủng lẳng một đoạn da, buông thõng xuống một bên sườn. Cơn đau thấu xương tủy ập đến khiến người chiến sĩ trẻ choáng váng, ngã quỵ xuống đất.

Nhưng tâm trí La Văn Cầu không hề có một giây phút nao núng hay nghĩ đến bản thân mình. cốt số 3 vẫn liên hồi nhả đạn, từng loạt đạn xé toạc màn đêm cướp đi sinh mạng của các đồng đội đang nằm chờ lệnh xung phong. Phía sau lưng ông là sự trông cậy của toàn đơn vị; nếu hỏa điểm này không bị triệt hạ, đợt tổng công kích sẽ thất bại và xương máu của đồng đội sẽ phải đổ thêm vô ích.

Thế nhưng, cánh tay phải đã hoàn toàn mất cảm giác, lủng lẳng vướng víu khiến ông không thể nào tiếp tục ôm ghì khối bộc phá 12kg nặng trịch. La Văn Cầu đã đưa ra một quyết định vượt quá mọi sự tưởng tượng thông thường của con người.

Ông đã kể lại khoảnh khắc bi tráng ấy: “Trong đêm tối, tôi biết tay phải của mình đã bị thương, nhưng vì nhiệm vụ, tôi vẫn cố tìm quả bộc phá, rồi dùng tay trái ôm chặt vào ngực và trườn lên phía trước. Lúc này, cánh tay phải bị thương cứ lủng lẳng, vướng vào cột dây thép đau hơn lúc trúng đạn. Khi đó, tôi chợt nghĩ đằng nào cũng bị thương rồi, thà chặt luôn tay đi cho đỡ vướng. Nghĩ thế, tôi liền nhờ Tiểu đội trưởng Nông Văn Thêu giúp mình chặt cánh tay bị thương để khỏi vướng, rồi tiếp tục dùng tay trái ôm bộc phá áp sát lô cốt địch, giật liền cả hai nụ xòe và chạy về phía sau. Sau tiếng nổ lớn, tôi lại ngất đi. Trong lúc ấy, các đồng chí khác đã thay tôi tiếp tục ôm bộc phá lao lên diệt các lô cốt khác của địch"... [1].

Đứng cạnh ông lúc đó là chiến sĩ Nông Văn Thêu. Nghe lời đề nghị bất ngờ và xé ruột xé gan của người tiểu đội phó, đồng chí Thêu bàng hoàng, đau xót không nỡ ra tay. Nhưng trước ánh mắt rực lửa căm thù giặc, giọng nói dứt khoát như một mệnh lệnh thép của La Văn Cầu đồng chí Thêu nén dòng nước mắt nghẹn ngào, rút phắt chiếc lưỡi lê gài bên hông, dứt khoát phạt đứt đoạn da thịt dập nát còn dính lại rồi vội vã lấy cuộn băng cá nhân băng chặt cụt để cầm máu cho bạn. Ông kể: “Tôi bảo anh chặt hộ tay cho tôi. Anh ngạc nhiên và bảo tôi quay xuống cho y tá băng bó. Tôi nói cho anh rõ ý định của tôi và tôi nhất định yêu cầu anh cứ chặt tay cho tôi, để tôi làm xong nhiệm vụ”[2].

Đoạn tay bị đứt lìa, vết thương chỉ được garô sơ sài, máu tươi vẫn thấm đỏ băng gạc, nhưng một luồng sức mạnh phi thường dường như đã bùng lên trong thể xác người thanh niên 18 tuổi “Tôi đến chỗ dấu bộc phá, nhặt lấy rồi tiếp tục lên phá lô cốt. Quả bộc phá nặng 12 kilô nhưng tay trái tôi vẫn đủ sức xách lấy nó” [2]. La Văn Cầu dùng cánh tay trái lành lặn còn lại kẹp chặt quả bộc phá vào ngực, nghiến chặt răng dập tắt cơn đau buốt thấu tim gan. Ông áp sát người xuống mặt đất, vừa trườn vừa dùng chân đẩy thân mình từng tấc, từng tấc một vượt qua làn đạn réo rắt tiến sát vách lô cốt số 3.

Khi đã áp sát chân công sự địch, dùng toàn bộ sức tàn và sự chuẩn xác tuyệt đối, ông đặt quả bộc phá vào đúng khe điểm yếu của lô cốt giặc, dùng tay trái rút chốt, giật mạnh nụ xòe rồi nhanh chóng lăn mình xuống một ngách rãnh hào sâu gần đó.

Một tiếng nổ kinh thiên động địa xé toạc màn đêm. Đất đá, mảnh bê tông và khói lửa bốc lên ngùn ngụt. Khối bộc phá 12kg đã san phẳng hoàn toàn lô cốt kiên cố số 3, chôn vùi toàn bộ hỏa điểm và những tên lính chiếm đóng ngoan cố bên trong “Tôi thấy bóng các anh xung kích từng loạt, từng loạt lướt qua mặt tôi vội nhảy vào vị trí Đông Khê, tôi thấy sung sướng quá, nghĩ bụng đã trả thù được cho 4 bạn trong tổ của tôi” [2].  

Khói súng chưa kịp tan, tiếng kèn xung trận vang lên giòn giã. Từ các chiến hào, hàng trăm chiến sĩ ta ào ạt xông lên như thác lũ, vượt qua cửa mở đánh thẳng vào sở chỉ huy trung tâm cứ điểm Đông Khê. Đến sáng ngày 18 tháng 9 năm 1950, lá cờ quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tung bay hiên ngang trên đỉnh đồn Đông Khê. Toàn bộ cứ điểm bị tiêu diệt, quân ta bắt sống các sĩ quan chỉ huy địch, mở thông hoàn toàn tuyến biên giới phía Bắc, tạo tiền đề quyết định đưa Chiến dịch Biên giới 1950 đi đến thắng lợi giòn giã, giải phóng dải biên cương rộng lớn của Tổ quốc.

Sau trận Đông Khê lịch sử, tấm gương hy sinh quên mình của La Văn Cầu lập tức bùng nổ thành một phong trào thi đua giết giặc lập công lan tỏa khắp các đơn vị trên chiến trường toàn quốc. Khẩu hiệu "Học tập La Văn Cầu – Càng đánh càng thắng" trở thành động lực thôi thúc hàng vạn thanh niên xung kích, sẵn sàng vượt qua mọi gian khổ, thử thách để giành thắng lợi.

Vào tháng 5 năm 1952, giữa bạt ngàn rừng xanh chiến khu Việt Bắc, Đại hội Chiến sĩ thi đua và Cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất đã được long trọng tổ chức. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị to lớn, vinh danh những người con ưu tú nhất của nhân dân trên các mặt trận chiến đấu, lao động sản xuất và phục vụ kháng chiến.

Tại Đại hội lịch sử này, đồng chí La Văn Cầu đã vinh dự là một trong 7 cá nhân đầu tiên được Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cùng đứng trong hàng ngũ những biểu tượng kiên cường thuở ấy có các anh hùng lừng danh như Cù Chính Lan, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Trần Đại Nghĩa... Tên tuổi của người thanh niên Tày dũng cảm đã chính thức đi vào trang sử vẻ vang của dân tộc như một biểu tượng trường tồn của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc rồi thống nhất non sông, người chiến sĩ La Văn Cầu tiếp tục cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua nhiều cương vị công tác, mang quân hàm Đại tá, ông luôn giữ vững phẩm chất mộc mạc, thanh bạch và khiêm nhường của Bộ đội Cụ Hồ. Sau khi nghỉ hưu, ông cùng gia đình sinh sống bình dị tại căn nhà nhỏ trên phố Tây Sơn (Hà Nội).

Dù đã ở tuổi xưa nay hiếm, mái đầu bạc trắng và trên cơ thể mang thương tật nặng, Đại tá La Văn Cầu vẫn miệt mài tham gia các hoạt động xã hội, nói chuyện truyền thống lịch sử cho học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên Thủ đô và cả nước. Ông không bao giờ coi mình là nhân vật đặc biệt “khi được hỏi về trận Đông Khê năm 1950, anh luôn khẳng định chiến thắng là thành quả của tập thể, của đồng đội và của nhân dân” [3].

Hình ảnh cảm động và thiêng liêng nhất, khắc sâu trong tâm trí của bất kỳ ai từng tiếp xúc với ông, chính là tư thế đứng chào điều lệnh quân đội. Theo Điều lệnh Quản lý bộ đội của Quân đội nhân dân Việt Nam, mọi quân nhân đều thực hiện động tác chào bằng tay phải. Thế nhưng, riêng với Đại tá La Văn Cầu, ông giơ cánh tay trái của mình lên vành mũ chào một cách trang nghiêm, dõng dạc.

Ý nghĩa thiêng liêng đằng sau động tác chào đặc biệt ấy đã được khắc họa lay động lòng người trên Báo Quân đội nhân dân:

“Quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, động tác chào bằng tay phải là điều lệnh. Nhưng, cuộc đời La Văn Cầu đã tạo nên điều đặc biệt-“một ngoại lệ thiêng liêng”. Cánh tay phải của ông đã ở lại chiến trường Đông Khê, hòa vào đất đá biên cương. Vì vậy, cánh tay trái trở thành cánh tay của ký ức, của lòng trung thành và của lời thề với Tổ quốc” [4].

Cánh tay phải đã gửi lại mảnh đất Đông Khê để đổi lấy một cửa đột phá cho toàn quân tiến lên, và cánh tay trái còn lại tiếp tục thay mặt cho đồng đội đã khuất giơ cao lời thề son sắt, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Động tác chào bằng tay trái ấy không chỉ là sự thích ứng của một thân thể mang thương tật, mà là một thông điệp lịch sử bằng xương bằng thịt, nhắc nhở hậu thế về cái giá vô cùng đắt của độc lập tự do.

Thực hiện đề án "Câu chuyện thời hoa lửa" do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động, việc lần giở lại từng trang sử về Anh hùng La Văn Cầu mang một giá trị giáo dục tư tưởng vô cùng sâu sắc và thời sự đối với tuổi trẻ hôm nay.

Thế hệ thanh niên ngày nay sinh ra và lớn lên trong hòa bình, được thụ hưởng trọn vẹn thành quả của nền độc lập dân tộc, tự do và sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ. Chúng ta không còn phải đối mặt với cảnh bom rơi đạn nổ, không phải cầm bộc phá xông pha dưới làn đạn thù hay đứng trước những quyết định nghiệt ngã như việc chặt đứt một phần cơ thể mình. Thế nhưng, ngọn lửa lý tưởng và tinh thần dấn thân của thời hoa lửa chưa bao giờ là cũ.

Từ câu chuyện huyền thoại của Anh hùng La Văn Cầu, là một sinh viên Sư phạm Lịch sử - Địa Lí, đứng trước trang sử về Anh hùng La Văn Cầu, tôi tự hỏi sau này khi đứng trên bục giảng, mình sẽ kể lại cho học sinh nghe câu chuyện này như thế nào để các em cảm nhận được:

Trước hết, đó là bài học về lý tưởng sống cao đẹp và tinh thần cống hiến quên mình. Khi con người biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên toan tính vị kỷ cá nhân, họ sẽ tìm thấy nguồn sức mạnh tinh thần vô biên để vượt qua mọi nghịch cảnh, đau đớn và nỗi sợ hãi. Ngọn lửa lý tưởng ấy không chỉ bùng cháy trong thời chiến mà còn được ông bền bỉ gìn giữ suốt những năm tháng hòa bình, như chính Anh hùng La Văn Cầu từng bộc bạch: “Tôi làm theo đúng lời dạy của Bác Hồ, làm phúc cho đời, làm mãi, làm mãi, không bao giờ thừa, chỉ sợ thiếu thôi. Cái gì lợi cho cộng đồng thì tôi sẵn sàng làm, sẵn sàng xả thân, cái gì hại thì không làm” (theo bài viết “Tình cảm của nhà báo Nguyễn Như Mai với Anh hùng La Văn Cầu” [3].

Về ý chí sắt đá và bản lĩnh vượt qua mọi giới hạn bản thân. Đứng trước khó khăn, nghịch cảnh ngỡ như không thể vượt qua, phẩm chất cốt lõi của người đoàn viên, thanh niên là không bao giờ chùn bước, kiên quyết tìm giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ thay vì thoái thác hay bỏ cuộc. Tinh thần thép ấy được đúc kết trọn vẹn qua lời thề đanh thép của người chiến sĩ trẻ giữa lằn ranh sinh tử nơi trận địa Đông Khê: “Trái tim còn đập, còn chiến đấu” [5]. Khí phách ấy nhắc nhở thế hệ hôm nay rằng chừng nào ý chí còn vững vàng, ngọn lửa nhiệt huyết còn sục sôi thì không thử thách nào có thể cản bước ta trên con đường học tập, lao động và rèn luyện.

Bài học về lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm tiếp bước truyền thống cha anh. Nền độc lập, hòa bình và ấm no hôm nay không tự nhiên mà có, mà đã được đánh đổi bằng máu xương, sự hy sinh và một phần thân thể của biết bao thế hệ đi trước gửi lại nơi chiến trường. Trách nhiệm thiêng liêng của tuổi trẻ hôm nay là phải biết trân trọng giá trị hòa bình, chuyển hóa lòng tự hào và sự tri ân thành những hành động thiết thực hằng ngày: ra sức học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, hăng say lao động sản xuất, đồng thời sẵn sàng chung tay bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển đảo để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh và phồn vinh.

Cánh tay của người anh hùng đã gửi lại biên cương năm ấy, nhưng tinh thần và khí phách La Văn Cầu sẽ mãi mãi là ngọn đuốc sáng soi đường cho tuổi trẻ Việt Nam trên hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn