Huyền thoại Khe Sanh và 45 ngày đêm hóa đá tảng chặn giặc của người anh hùng diệt 78 tên Mỹ
Tái hiện những giờ phút nghẹt thở của Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm 1968 qua hồi ức của Đại tá, Anh hùng Trần Hữu Bào. Đi sâu vào trận quyết chiến chiến lược tại điểm cao 595, nơi một tiểu đội cảm tử kiên cường đương đầu với lính thủy đánh bộ Mỹ và khúc tráng ca độc hành diệt 78 tên giặc của một cá nhân quả cảm.
Trong bầu không khí sục sôi chuẩn bị hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2026), chúng tôi có duyên lành đến thăm Đại tá, cựu chiến binh, Anh hùng Lực lượng vũ trang (AHLLVT) nhân dân Trần Hữu Bào tại tư gia của ông ở phường Vinh Phú, tỉnh Nghệ An. Ở tuổi 76, mái đầu đã bạc nhưng phong thái của ông vẫn ngời lên chất lính. Nghe ông chậm rãi kể về cuộc đời binh nghiệp, những trang sử oanh liệt năm xưa cứ thế hiện ra sống động như một thước phim quay chậm của một thời hoa lửa.Người lính già sinh năm 1950 tại vùng đất học Hiến Sơn, huyện Đô Lương (nay thuộc xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An). Khi vừa tròn 17 tuổi (ngày 12-7-1967), mang theo lòng yêu nước nồng nàn, chàng thiếu niên trẻ lên đường nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304. Cuộc đời binh nghiệp của ông là một chuỗi dài những chiến dịch lớn nhỏ. Nhưng có lẽ, dấu son chói lọi nhất, khắc sâu vào tâm khảm ông chính là chiến công oanh liệt: “45 ngày chốt giữ cao điểm 595”, nơi một mình ông đã dũng cảm tiêu diệt tới 78 lính thủy đánh bộ Mỹ.Nhấp ngụm trà, ông đưa chúng tôi trở lại đầu năm 1968, thời điểm Khe Sanh - Hướng Hóa (Quảng Trị) trở thành cái rốn của cuộc chiến, thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Sự điều binh khiển tướng của ta biến ảo đến mức không chỉ giới cố vấn Mỹ tại Sài Gòn mà cả những bộ óc quân sự sừng sỏ nhất tại Washington cũng hoàn toàn “mất phương hướng” vì lo sợ một “Điện Biên Phủ thứ hai” sẽ tái hiện tại vùng thung lũng heo hút này.Vốn là một vùng rừng núi hiểm trở phía Tây Quảng Trị, Khe Sanh án ngữ vị trí giáp ranh giới tuyến quân sự tạm thời. Từ năm 1966, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng tại đây tuyến phòng thủ kiên cố mang tên hàng rào điện tử McNamara. Tọa lạc ngay ngã ba biên giới, Khe Sanh được định vị là một trong ba “mắt thần” của hệ thống này, nơi địch tập trung xây dựng một tập đoàn cứ điểm cực mạnh gồm: chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và sân bay Tà Cơn. Mỹ trang bị cho nơi này những vũ khí tối tân nhất lúc bấy giờ, công sự kiên cố dày đặc, được yểm trợ liên tục bởi pháo đài bay B52 và những lực lượng tinh nhuệ nhất nhằm cắt đứt tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, ngăn chặn quân ta từ Bắc vào, từ Lào sang, làm tấm lá chắn vững chắc cho sườn phía Đông Đường 9.Trong đó, Tà Cơn là căn cứ có kết cấu quân sự hoàn chỉnh nhất với sân bay, sở chỉ huy và hệ thống hậu cần đồng bộ. Điểm cao 595 nằm cách sân bay Tà Cơn khoảng 1,5km về phía Tây Bắc, kẹp giữa các cao điểm 832, 689 và 500. Đây là tuyến đường huyết mạch hằng ngày quân Mỹ dùng xe tăng hộ tống xe tải vận chuyển nhu yếu phẩm vào Tà Cơn. Sau một thời gian bị quân ta vây ép ngẹt thở, quân địch buộc phải rút chạy về trung tâm cứ điểm. Ngay khi ta tiếp quản trận địa, đồng chí Trần Hữu Bào cùng các chiến sĩ Tiểu đội 3, Trung đội 1, Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 nhận lệnh bằng mọi giá phải giữ vững cao điểm 595, tiêu diệt sinh lực địch, bẻ gãy tuyến tiếp tế và khống chế máy bay vận tải hạ cánh xuống sân bay địch.Để chốt chặn điểm cao chiến lược này, đơn vị lập tức dàn trận địa: mỏm 1 thấp hơn giao cho Tiểu đội 1 và 2 chốt giữ; Tiểu đội 3 phụ trách mỏm 2 cao hơn. Tại mỏm 2, ta đào hai hầm chữ Y vững chãi ngay cửa hầm, có hố đứng bắn để vừa ẩn nấp vừa cảnh giới nghiêm ngặt. Hỏa lực toàn trung đội có B41, tiểu đội có B40, đại đội trang bị cối 60mm. Đồng thời, Đại đội 5 giữ chốt còn được nhận sự chi viện hỏa lực tầm xa từ cối 82mm của Đại đội 8 cùng sự phối hợp của hai đại đội cơ động 6 và 7.Trong trận chiến sinh tử ấy, chiến sĩ Trần Hữu Bào được giao trọng trách sử dụng hỏa lực B40, súng tiểu liên AK và 3 cơ số lựu đạn. Tiểu đội 3 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Phó trung đội trưởng Phạm Nhất Linh (trang bị AK) gồm có: Tiểu đội trưởng Bút (súng AK), Tiểu đội phó Thứ (súng AK) và chiến sĩ Thúy (giữ súng trung liên). Toàn đội bước vào trận đánh với lời thề sắt đá: “Còn người còn trận địa”. Phương châm tác chiến được quán triệt sâu sắc: tuyệt đối giữ bí mật lực lượng, kiên nhẫn bám trụ, chờ giặc vào thật gần cách 10 - 15m mới đồng loạt nổ súng nhằm tạo yếu tố bất ngờ và đạt hiệu suất sát thương cao nhất.Kể từ ngày lên chốt, các chiến sĩ phải thay phiên nhau canh gác căng thẳng suốt 24/24 giờ. Ngày cũng như đêm, pháo cối và máy bay địch từ sân bay Tà Cơn trút đạn điên cuồng, cày xới nát tan từng tấc đất trên cao điểm 595. Ban ngày, mặt đất hoàn toàn bị cô lập, mọi hoạt động tiếp tế, di chuyển của ta chỉ có thể diễn ra dưới màn đêm. Cuộc sống của những người lính trên chốt vô cùng khắc nghiệt: ăn cơm nắm, nước uống thiếu thốn, không có nước tắm giặt, quần áo bẩn phải gửi anh nuôi mang về cứ giặt giũ rồi tối muộn lại gom lên. Trong suốt quá trình hành quân chiếm lĩnh và bảo vệ chốt, đơn vị đã chịu tổn thất lớn khi có 45 đồng chí hy sinh và bị thương. Tại trận địa của Tiểu đội 3 với hai căn hầm chữ Y hướng về phía Tà Cơn, hầm bên trái gồm các đồng chí Linh, Bút và Thúy; hầm bên phải do đồng chí Thứ chỉ huy cùng chiến sĩ Trần Hữu Bào.Ngày 6-4-1968 đánh dấu ngày thứ 45 kiên cường bám trụ của đơn vị tại điểm cao 595. Không gian đặc quánh mùi thuốc súng, bom đạn dồn dập từ Tà Cơn dội về khiến bầu không khí căng thẳng tột độ. Trước đó hai tuần, một đại đội thủy quân lục chiến Mỹ hung hãn tiến công vào mỏm 1 đã bị Tiểu đội 1 và 2 đánh vỗ mặt, tiêu diệt tại chỗ 23 tên. Sáng ngày 6-4, sau khi đi kiểm tra một lượt công sự, Phó trung đội trưởng Phạm Nhất Linh nhận định sắc bén: “Tối qua và sáng nay địch bỗng nhiên bớt bắn pháo cối, đây là dấu hiệu chúng chuẩn bị mở trận càn lớn vào chốt. Anh em ăn sáng khẩn trương, chuẩn bị vũ khí thật chu đáo. Đạn lên nòng, lựu đạn mở sẵn nắp bảo hiểm, dán mắt hướng về Tà Cơn quan sát địch từ xa”.Đúng như dự đoán, khoảng 9 giờ sáng, máy bay địch điên cuồng ném bom, pháo cối dập dồn dập xuống trận địa. Nhờ công sự vững chắc, cả tiểu đội vẫn an toàn và kịp thời phát hiện một toán lính thủy đánh bộ Mỹ đang lầm lũi tiến vào dốc. Khi cách chốt hơn 100m, chúng dừng lại, dùng hỏa lực đi cùng bắn xối xả hòng dọn đường xông lên. Nhìn bóng giặc lăm lăm tiến tới, đồng chí Linh và đồng chí Bút trầm tĩnh động viên anh em giữ vững vị trí, chờ chúng lọt vào tầm chết chóc 10 - 15m. Khi toán quân địch đánh thẳng vào hầm bên trái, lệnh bắn vang lên, thủ pháo và lựu đạn nổ tung, trung liên và AK quét gục ngay toán đi đầu.Ngay trước cửa hầm của ông Bào có một hố bom lớn. Thấy đồng đội bị đánh vỗ mặt, 10 tên Mỹ hoảng loạn nhảy xuống đó ẩn nấp. Nhanh như cắt, ông Bào rút chốt, ném thẳng quả lựu đạn chính xác vào lòng hố, tiêu diệt gọn cả toán giặc. Đúng lúc tiểu đội nổ súng, hỏa lực cối của cấp trên từ phía sau bắn chi viện cực kỳ chính xác vào đội hình hoen ố của địch, gây thương vong nặng nề. Quân địch rối loạn, tên chỉ huy gào thét thúc lính tràn lên, nhưng xông lên đến đâu liền bị trung liên và tiểu liên của tiểu đội bắn gục đến đó, buộc phải tháo chạy lui về phía sau. Sau khi củng cố lại đội hình, địch tiếp tục điên cuồng nã hỏa lực vào chốt khiến chiến sĩ giữ súng trung liên Thúy và Tiểu đội trưởng Bút bị thương nặng.Dù liên tục dùng hỏa lực dọn đường để mở thêm nhiều đợt tấn công điên cuồng khác, quân Mỹ đều bị những cái đầu lạnh của Tiểu đội 3 đánh bật ra khỏi bờ công sự. Đến cuối buổi chiều, chúng lầm lũi rút chạy về sân bay Tà Cơn. Đêm hôm đó, dưới ánh sáng pháo sáng lập lòe, tiểu đội vừa tranh thủ sửa sang lại hầm hào, vừa họp rút kinh nghiệm chiến đấu. Trận đánh kết thúc với thắng lợi vang dội: đồng chí Linh diệt 25 tên, đồng chí Bút diệt 5 tên, đồng chí Thứ diệt 8 tên, đồng chí Thúy diệt 17 tên, và ông Bào diệt 10 tên — tổng cộng 65 tên Mỹ đền mạng. Ta thu giữ tại trận địa 2 súng phóng lựu, 1 khẩu đại liên, 11 khẩu AR15 cùng rất nhiều lựu đạn mỏ vịt.Ngay trong đêm, đồng chí Đợi được điều động lên thay Tiểu đội trưởng Bút; chiến sĩ Phiệt lên thay vị trí giữ súng trung liên của đồng chí Thúy. Toàn tiểu đội lúc này chỉ còn vẹn vẹn 5 tay súng. Nhận định ngày mai địch sẽ điên cuồng phục hận bằng một cuộc tấn công quy mô lớn và khốc liệt hơn, Phó trung đội trưởng Linh nắm chặt tay các chiến sĩ động viên: “Còn người còn trận địa! Quyết tử giữ vững cao điểm 595, đợi giặc vào thật gần mới nổ súng, đánh cả địch dưới đất lẫn trên trời!”.Sáng ngày 7-4-1968, khi màn sương mù vừa kịp tan, pháo bầy và máy bay địch lại trút bão lửa xuống cao điểm 595. Mặt đất bị cày xới tan nát, nhưng may mắn thay không ai bị thương. Đồng chí Linh đi dọc chiến hào nhắc nhở anh em lên đạn, giữ bình tĩnh nhìn thẳng vào hướng tấn công của giặc. Khoảng 9 giờ sáng, một biển người lính Mỹ ồ ạt tràn lên chốt với số lượng đông hơn hẳn hôm trước. Chờ thời cơ chín muồi, cả tiểu đội đồng loạt ném lựu đạn, trung liên và AK nhả đạn đanh thép, quật ngã hàng loạt toán quân tiên phong. Cùng lúc, hỏa lực cối 60mm và 82mm của ta từ phía sau dập trúng đội hình địch khiến chúng la hét thảm thiết. Địch lồng lộn bắn trả ác liệt, chiến sĩ Phiệt anh dũng hy sinh, đồng chí Đợi và đồng chí Linh cũng bị trúng đạn bị thương.Đến khoảng 11 giờ trưa, quân Mỹ lại gom quân tổ chức tấn công đợt mới nhưng tiếp tục bị những tay súng kiên cường của tiểu đội kết hợp hỏa lực cối của Đại đội và Tiểu đoàn bẻ gãy hoàn toàn. Cuộc chiến kéo dài ròng rã đến tận 16 giờ chiều, địch dồn toàn lực nã hỏa lực rồi xua bộ binh tràn lên hòng xóa sổ chốt. Tên chỉ huy hò hét khản đặc cả cổ họng, ép lính xông lên nhưng đều bị những loạt đạn AK đanh thép của ta chặn đứng. Khi hoàng hôn buông xuống, sương mù dày đặc bao phủ trận địa, quân Mỹ bắt đầu lén lút bò lên để kéo xác đồng bọn và những tên bị thương rút chạy. Chớp thời cơ, ông Bào cùng các anh em còn lại tiếp tục nã AK chính xác, tiêu diệt thêm nhiều tên giặc nữa trong màn sương.Trải qua 45 ngày đêm hóa thành đá tảng chốt giữ vững vàng cao điểm 595, đặc biệt là hai ngày huyết chiến mùng 6 và 7-4-1968 đối đầu trực diện với lực lượng sừng sỏ bậc nhất của Mỹ, bằng lối đánh mưu trí, dũng cảm, bí mật, bất ngờ và một ý chí thép không lùi bước, Tiểu đội 3 của ông Bào đã làm nên điều kỳ diệu: xóa sổ 205 tên Mỹ, trong đó cá nhân chiến sĩ Trần Hữu Bào một mình diệt gọn 78 tên. Chiến công hiển hách đó đã đưa Tiểu đội 3 vinh dự nhận Huân chương Quân công hạng Ba, riêng cá nhân ông Bào được tập thể suy tôn, nhận Huân chương Chiến công hạng Nhất.Vào ngày 25-8-1970, ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc và lòng quả cảm vô song, đồng chí Trần Hữu Bào đã được Nhà nước long trọng phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.Rời chiến trường Đường 9 - Khe Sanh sau ngày toàn thắng, người anh hùng Trần Hữu Bào được cấp trên cử đi đào tạo sĩ quan chỉ huy. Sau đó, ông tiếp tục đem bầu máu nóng ra mặt trận, tham gia vào hàng loạt chiến dịch lịch sử: 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972, Chiến dịch Thượng Đức và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, chứng kiến ngày non sông nối liền một dải.Năm 1993, sau khi hoàn thành xuất sắc sứ mệnh với Tổ quốc, ông nghỉ hưu trở về đời thường với quân hàm Đại tá. Trở về quê hương Nghệ An, ông lại tiếp tục cống hiến sức lực cho các phong trào địa phương, đảm nhiệm nhiều cương vị như cán bộ khối, cán bộ Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An... Giờ đây, dẫu bước vào tuổi 76, sức khỏe có phần giảm sút theo năm tháng, nhưng Đại tá Trần Hữu Bào vẫn luôn là một tấm gương sáng ngời về đức độ, là người “truyền lửa” cách mạng vô giá, thắp sáng lòng yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.



