Anh hùng Lực lượng vũ trang

HUYỀN THOẠI PHẠM TUÂN VÀ ĐÊM SAO THÁNG CHẠP NĂM ẤY

Hưng Yên16/09/2026xã Đồng Dương (Đoàn xã Đồng Dương)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phạm Tuân sinh năm 1947, cất tiếng khóc chào đời tại xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Quê hương ông là một miền quê chiêm trũng yên ả, nơi những cánh cò trắng chao nghiêng trên những sóng lúa xanh rờn, nơi tiếng sáo diều vi vu mỗi buổi chiều tà từng nuôi dưỡng tâm hồn của biết bao thế hệ. Tuổi thơ của cậu bé Tuân trôi qua êm đềm bên gốc đa, bến nước, sân đình, nhào lộn cùng chúng bạn trên những triền đê lộng gió. Nhưng rồi, sự bình yên ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh chia cắt. Giống như bao thanh niên cùng trang lứa, Phạm Tuân lớn lên với bầu máu nóng sục sôi và tình yêu quê hương đất nước mãnh liệt. Năm 1965, khi vừa bước sang tuổi mười tám – cái tuổi đẹp nhất của đời người với bao mộng mơ và hoài bão, chàng thanh niên Phạm Tuân quyết định xếp lại những dự định cá nhân, gác lại những buổi chiều chăn trâu cắt cỏ để viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Chàng trai Thái Bình ấy ra đi với một trái tim rực lửa, mang theo lời dặn dò của mẹ cha và niềm tin sắt đá vào ngày chiến thắng.

Ban đầu, con đường binh nghiệp của Phạm Tuân không gắn liền với những đám mây. Ông được tuyển chọn và cử sang Liên Xô để theo học ngành thợ máy radar. Những ngày tháng đầu tiên ở nước bạn xa xôi, cái lạnh thấu xương của mùa đông nước Nga không làm chùn bước ý chí của chàng tân binh trẻ. Ông miệt mài học tập, nghiên cứu từng vi mạch, từng hệ thống điện tử phức tạp với mong muốn sớm trở về phục vụ quân đội. Nhưng rồi, định mệnh đã khẽ mỉm cười và rẽ lối cuộc đời ông sang một trang hoàn toàn khác. Trong một đợt tuyển chọn phi công gắt gao bổ sung cho lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam, với thể trạng khỏe mạnh, sức chịu đựng dẻo dai và phản xạ cực kỳ nhạy bén, Phạm Tuân đã lọt vào "mắt xanh" của các chuyên gia y tế và sĩ quan tuyển quân. Kể từ giây phút đó, cuộc đời ông chính thức gắn liền với buồng lái và những chuyến bay xuyên tầng mây.

Hành trình trở thành một phi công tiêm kích chiến đấu thực thụ là một chặng đường dài đầy mồ hôi, nước mắt và cả sự đánh đổi. Tại Trường Hàng không quân sự Krasnodar (Liên Xô), Phạm Tuân phải trải qua những bài tập khắc nghiệt đến tột cùng. "Để làm chủ được bầu trời, trước hết phải làm chủ được chính giới hạn của bản thân mình." Những vòng quay ly tâm ép chặt lồng ngực đến mức không thể thở nổi, những lần nhào lộn trên không trung khiến máu dồn ngược lên não, hay những bài tập nhảy dù giữa không gian trắng xóa tuyết rơi đều là những thử thách mà ông phải nghiến răng vượt qua. Từ một thanh niên quen với việc đồng áng, Phạm Tuân đã dần làm chủ được những cỗ máy chiến đấu hiện đại, phức tạp bậc nhất thời bấy giờ. Khi khóa huấn luyện kết thúc, ông trở về nước và được biên chế vào Đoàn Không quân Sao Đỏ anh hùng, chính thức điều khiển chiếc tiêm kích MiG-21, mang trên vai sứ mệnh bảo vệ khoảng không thiêng liêng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trở thành phi công bay ngày đã khó, để trở thành phi công bay đêm lại càng là một thử thách vô cùng khắc nghiệt. Trong bóng đêm tĩnh mịt, khi không còn ánh mặt trời để định vị không gian, mọi thao tác của người phi công đều phải phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống đồng hồ trên khoang lái và sự dẫn đường từ sở chỉ huy mặt đất. Phạm Tuân được tin tưởng giao nhiệm vụ trong đội hình bay đêm, lực lượng tinh nhuệ có nhiệm vụ đánh chặn các cuộc tập kích bất ngờ của không quân địch lúc nửa đêm về sáng. Hàng chục lần xuất kích, hàng chục lần đối mặt với tử thần giữa không trung bao la, ông luôn giữ được cái đầu lạnh và một trái tim nóng, không ngừng tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện bản lĩnh chiến đấu.

Đỉnh cao bi tráng và hào hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Phạm Tuân phải kể đến những ngày cuối tháng 12 năm 1972, khi bầu trời Hà Nội rực cháy trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không". Đó là những ngày tháng mà thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay chỉ có thể hình dung qua những thước phim tài liệu đen trắng hay những dòng hồi ký nhòe nước mắt. Bế tắc trên bàn đàm phán Paris, đế quốc Mỹ đã điên cuồng phát động chiến dịch Linebacker II, sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 – thứ vũ khí mang tính hủy diệt khủng khiếp được mệnh danh là "Pháo đài bay" bất khả chiến bại – nhằm san phẳng miền Bắc Việt Nam. Chúng mang theo cuồng vọng đưa miền Bắc "trở về thời kỳ đồ đá". Mỗi chiếc B-52 có thể mang theo hàng chục tấn bom, tạo ra những trận mưa bom rải thảm san bằng mọi thứ trên mặt đất. Không chỉ vậy, B-52 còn được bảo vệ bởi một hệ thống nhiễu điện tử dày đặc khiến màn hình radar của ta trắng xóa, cùng hàng chục chiếc tiêm kích F-4 bay quanh hộ tống sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ mục tiêu nào dám bén mảng đến gần.

Hà Nội những ngày đó tang thương nhưng vô cùng kiên cường. Phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai chìm trong đống đổ nát, vương vãi máu và nước mắt của những người dân vô tội. Đứng trước cảnh tượng quê hương bị chà đạp, đồng bào bị sát hại dã man, ngọn lửa căm hờn sục sôi trong lồng ngực những người lính phòng không, không quân. Nhiệm vụ tối thượng được đặt ra: Phải bắn rơi tại chỗ B-52! Phải đập tan huyền thoại bất khả chiến bại của không lực Hoa Kỳ! Tuy nhiên, việc đưa MiG-21 lên đối đầu với B-52 vào ban đêm là một bài toán vô cùng nan giải. Sân bay Nội Bài, Gia Lâm liên tục bị đánh phá. Các phi công của ta phải cất cánh từ những sân bay dã chiến, đường băng ngắn, gồ ghề, xung quanh không có hệ thống đèn chiếu sáng tiêu chuẩn.

Đêm 27 tháng 12 năm 1972, không khí lạnh buốt của mùa đông miền Bắc cắt da cắt thịt. Tại sân bay dã chiến Yên Bái, Phạm Tuân nhận lệnh trực chiến. Bầu không khí căng thẳng bao trùm. Mọi ánh mắt hướng về phía đường băng mờ mịt trong đêm. Khi tiếng còi báo động xé toạc không gian, Phạm Tuân lao nhanh ra chiếc MiG-21 mang số hiệu 5121. Ông nhanh chóng ngồi vào buồng lái, kiểm tra lại toàn bộ hệ thống vũ khí và khí tài. Tiếng động cơ phản lực gầm rú rung chuyển cả một góc rừng. Chiếc tiêm kích nhỏ bé lao vút lên bầu trời đen thẳm, bỏ lại phía sau những hố bom nham nhở, lao thẳng vào lòng địch.

Từ sở chỉ huy, các sĩ quan dẫn đường liên tục bám sát tình hình, thông báo tọa độ và hướng bay của địch. Trên bầu trời, mạng lưới nhiễu điện tử của Mỹ giăng ra như một bức tường vô hình. Phạm Tuân bình tĩnh điều khiển máy bay bay thấp để tránh sự phát hiện của radar địch, xuyên qua những tầng mây dày đặc. Khi đến gần khu vực mục tiêu, ông bất ngờ kéo cao mũi máy bay, lấy độ cao chiến thuật. Xung quanh chiếc MiG-21 lúc này là hàng rào tiêm kích F-4 của Mỹ đang lùng sục. Chỉ cần một sai lầm nhỏ, một sự mất tập trung trong tích tắc, chiếc máy bay của ông có thể tan xác ngay lập tức. Nhưng với bản lĩnh kiên cường, Phạm Tuân khéo léo lách qua đội hình bảo vệ của địch.

Rồi giây phút quyết định cũng đến. Qua lớp kính buồng lái, đôi mắt tinh anh của Phạm Tuân phát hiện ra những đốm sáng nhấp nháy liên tục ở phía xa. Đó chính là hệ thống đèn hiệu hàng hải ở đuôi của chiếc "pháo đài bay" B-52. Chúng đang lù lù tiến về phía Hà Nội, mang theo cái chết và sự tàn phá. Trái tim người phi công đập thình thịch. Ông lập tức báo cáo về sở chỉ huy: "Đã phát hiện mục tiêu, xin phép công kích!". Giọng nói của ông vang lên rành rọt, kiên định qua hệ thống vô tuyến điện. Sở chỉ huy hồi hộp đáp lại: "Đồng ý công kích, chú ý an toàn!".

Để đánh lừa hệ thống cảnh báo sớm của địch, Phạm Tuân đã thực hiện một quyết định vô cùng táo bạo: ông tắt hoàn toàn hệ thống radar trên máy bay của mình, sử dụng mắt thường để ngắm bắn. Ông đẩy cần tốc độ, chiếc MiG-21 xé gió lao đến áp sát con quái vật khổng lồ. Khoảng cách thu hẹp dần một cách chóng mặt: mười kilomet, rồi tám kilomet, năm kilomet... B-52 to lớn dần hiện ra trong màn đêm. Ở cự ly này, nếu bắn tên lửa, nguy cơ máy bay của ông bị cuốn vào vùng nổ của B-52 là rất cao. Nhưng nếu không bắn ngay, mục tiêu có thể tẩu thoát hoặc F-4 sẽ phát hiện và tiêu diệt ông. Không do dự, ở cự ly khoảng hơn ba kilomet, Phạm Tuân bình tĩnh khóa mục tiêu, ngón tay ông siết mạnh cò phóng.

Hai quả tên lửa không đối không K-13 vút đi từ cánh chiếc MiG-21, vẽ thành hai vệt lửa đỏ rực xé toạc màn đêm lạnh lẽo. Vài giây chờ đợi trôi qua dài như cả một thế kỷ. Và rồi, một tiếng nổ rung chuyển đất trời vang lên. "Trúng rồi! Cháy rồi!" Phạm Tuân hét lên trong bộ đàm. Một quầng lửa khổng lồ bùng lên sáng rực cả một góc trời, soi rõ những đám mây. Chiếc B-52 khổng lồ, niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ, đã bị trúng đạn, gãy gục và rơi tự do xuống mảnh đất Phù Yên, Sơn La. Ngay sau khi phóng tên lửa, bằng phản xạ tuyệt vời của một phi công lão luyện, Phạm Tuân lập tức kéo cần lái, lật ngửa chiếc MiG-21, vòng tránh thật nhanh để thoát khỏi vùng hỏa vĩ kinh hoàng và sự truy cản điên cuồng của những chiếc F-4 hộ tống. Ông điều khiển máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay dã chiến trong niềm vỡ òa hạnh phúc tột độ của đồng đội và ban chỉ huy.

Chiến công hạ gục B-52 trong đêm 27 tháng 12 năm 1972 của Phạm Tuân không chỉ là một chiến tích cá nhân vĩ đại mà còn là một bước ngoặt mang ý nghĩa lịch sử to lớn. Nó đã đập tan hoàn toàn huyền thoại về "Pháo đài bay" bất khả xâm phạm, giáng một đòn chí mạng vào ý chí xâm lược của kẻ thù, góp phần quan trọng buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Sau này, vào năm 1980, Phạm Tuân lại một lần nữa mang vinh quang về cho Tổ quốc khi tham gia chuyến bay vũ trụ quốc tế Interkosmos, trở thành người Việt Nam đầu tiên và người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ. Từ một cậu bé chăn trâu đất Thái Bình, ông đã bay lên những tầng mây bảo vệ quê hương, và rồi vươn mình bay ra ngoài không gian bao la của vũ trụ. Cuộc đời ông là một bản hùng ca tuyệt đẹp về ý chí, nghị lực và khát vọng vươn lên không giới hạn của con người Việt Nam.

Gấp lại những trang sử vàng chói lọi, thế hệ thanh niên chúng ta hôm nay được sống trong một bầu trời hòa bình, không còn tiếng còi báo động phòng không, không còn những đêm dài trú ẩn dưới hầm sâu lạnh lẽo. Đọc lại câu chuyện của anh hùng Phạm Tuân, chúng ta không chỉ thấy lòng biết ơn sâu sắc mà còn nhận ra một bài học vô giá về sự dấn thân và ý chí vượt khó. Nếu thế hệ cha anh đã dùng tuổi thanh xuân để đối đầu với mưa bom bão đạn, giành lại độc lập tự do, thì sứ mệnh của tuổi trẻ hôm nay là làm chủ tri thức, làm chủ công nghệ để kiến thiết đất nước giàu mạnh, vươn tầm thế giới. Khó khăn, thử thách trong cuộc sống hiện đại dẫu có nhiều "nhiễu sóng" không kém những hệ thống điện tử năm xưa, nhưng chỉ cần chúng ta giữ vững lý tưởng, trau dồi bản lĩnh và không ngừng tiến bước, chúng ta hoàn toàn có thể tạo nên những kỳ tích mới cho riêng mình.

Câu hỏi đặt ra cho mỗi người trẻ chúng ta hôm nay là: Giữa bầu trời rộng lớn của kỷ nguyên hội nhập, bạn đã chuẩn bị hành trang gì để tự tin "cất cánh" và ghi dấu ấn thanh xuân của mình?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. (2012). "Lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam (1955-1977)". Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

  • Lưu Trọng Lân. (2012). "Điện Biên Phủ trên không - Bản hùng ca bất tử". Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

  • Tôn Tích Cương, Nguyễn Văn Trịnh. (2014). "Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam (1965-1975)". Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    HUYỀN THOẠI PHẠM TUÂN VÀ ĐÊM SAO THÁNG CHẠP NĂM ẤY | Câu chuyện thời hoa lửa