HUYỀN THOẠI SAU CÁNH CỬA THỜI GIAN - Cuộc đời Cựu Chiến Binh Gương Mẫu Huỳnh Văn Lai -
Ông ngoại tôi – ông Huỳnh Văn Lai – là một nhân chứng sống của thời máu lửa.Ông sinh năm 1950 quê ở (xã Trà Nú-Bắc Trà My-Quảng Nam),nay là xã Trà Liên-TP.Đà Nẵng.Vào Năm 1968, khi chiến tranh còn khốc liệt, ông rời quê nhà để nhập ngũ vào huyện đội Bắc Trà My
Có những câu chuyện, càng lớn lên tôi càng hiểu, và càng hiểu lại càng thấy nghẹn.
Ông ngoại tôi – ông Huỳnh Văn Lai – là một nhân chứng sống của thời máu lửa.Ông sinh năm 1950 quê ở (xã Trà Nú-Bắc Trà My-Quảng Nam),nay là xã Trà Liên-TP.Đà Nẵng.Vào Năm 1968, khi chiến tranh còn khốc liệt, ông rời quê nhà để nhập ngũ vào huyện đội Bắc Trà My . Cũng trong những năm tháng hoài niệm ấy, ông gặp bà ngoại tôi – bà Huỳnh Thị Hiến. Hai con người đến với nhau không phải bằng những buổi chiều yên ả hay lời hẹn hò giản dị, mà giữa khói lửa chiến tranh, nơi sự sống và cái chết luôn cận kề. Có lẽ họ không cần nói nhiều, chỉ cần biết giữa bao nhiêu mất mát, vẫn có một người còn ở bên mình.
Hành trình của ông không được kể lại bằng những chiến công lớn, mà chỉ là những mảnh ký ức rời rạc, ít ỏi. Ông từng vận chuyển đạn dược, băng qua rừng, lội qua suối, đi trong đêm tối để tránh sự phát hiện. Những con đường không tên, những bước chân phải nhẹ như không, vì chỉ một tiếng động cũng có thể đổi lấy hiểm nguy. Tôi tưởng tượng ông của những năm tháng ấy-trẻ, gầy, nhưng ánh mắt chắc hẳn rất kiên định.
Rồi ông cầm súng chiến đấu. Không có gì “hào hùng” như người ta vẫn tưởng. Chỉ có những giây phút căng thẳng đến nghẹt thở, khi mỗi tiếng động đều khiến tim đập mạnh hơn. Có những lúc ông phải chui xuống những hầm đất chật hẹp, tối om, không gian đặc quánh mùi đất và sự im lặng. Ở đó, con người không chỉ đối mặt với kẻ thù, mà còn đối mặt với chính nỗi sợ của mình.
Tôi từng nhìn thấy những vết sẹo hằng sâu trên tay ông. Ông không nói đó là từ đâu. Nhưng tôi biết, mỗi vết sẹo là một lần đối diện với ranh giới sống – chết. Và có lẽ, điều khiến người ta đau hơn cả không phải là vết thương trên cơ thể, mà là những người đã không còn nữa. Những người đồng đội từng cùng ông đi qua rừng quế, qua những đêm dài… rồi mãi mãi ở lại đâu đó trong lòng đất quê hương.
Giữa tất cả những điều ấy, tình cảm của ông và bà vẫn tồn tại. Không ồn ào, không lời hứa lớn lao. Chỉ là sự gắn bó rất lặng lẽ: còn sống là còn tìm về nhau. Tôi tự hỏi, trong những ngày bom rơi đạn nổ, họ có dám nghĩ đến tương lai không, hay chỉ cần hôm nay vẫn còn nhìn thấy nhau, đã là đủ?
Năm 1975, chiến tranh kết thúc. Ông trở về. Không mang theo những câu chuyện để kể, không nhắc nhiều về quá khứ. Ông trở lại với ruộng lúa, với rừng quế, với cuộc sống bình dị. Nhưng tôi biết, chiến tranh có thể đã lùi xa, còn những ký ức thì vẫn ở lại, lặng lẽ trong ông, như một phần không thể tách rời.
Bây giờ, tôi sống trong hòa bình,lo những điều rất nhỏ bé của tuổi học trò. Nhưng mỗi lần nhìn ông, tôi lại tự hỏi: nếu là mình trong hoàn cảnh ấy, mình có đủ can đảm để bước đi không?
Và rồi tôi nhận ra, câu chuyện của ông không chỉ để kể lại, mà để nhắc nhở.
Nhắc rằng sự bình yên hôm nay không phải tự nhiên mà có.
Nhắc rằng có cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng nỗi sợ rất thật, nhưng vẫn không lùi bước.
Nhắc rằng chúng tôi – những người trẻ – không cần cầm súng, nhưng phải biết sống xứng đáng.
Sống có trách nhiệm hơn với bản thân. Trân trọng hơn những gì mình đang có.
Và không lãng phí những ngày bình yên mà người khác đã đánh đổi bằng cả tuổi trẻ.
Vì phía sau cuộc sống bình thường của chúng ta hôm nay…là một thời “hoa lửa” mà không phải ai cũng có thể đi qua.
https://youtube.com/shorts/jCLnlP1i54g?si=GMYNNKTP6HNQ0PwK



