Huyền thoại từ lòng đất mẹ – Tượng đài bất tử Nguyễn Thị Thứ

Trong cuốn sử thi bằng máu và nước mắt của dân tộc Việt Nam, có những trang viết không khởi đầu từ những trận đánh lẫy lừng, cũng không kết thúc bằng chiến công hiển hách của một vị tướng, mà được viết nên bởi sự hy sinh thầm lặng của những người mẹ. Ca dao xưa có câu: "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa/ Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương." Lời ca dao mộc mạc ấy gợi nhắc về một tình mẫu tử nguyên sơ, thiêng liêng và dịu ngọt nhất của con người. Người mẹ chắt chiu từng giọt sữa, nhường miếng cơm ngon, nhận về mình sự gian khổ để nuôi con khôn lớn thành người. Thế nhưng, khi Tổ quốc đứng trước lằn ranh sinh tử, khi đất nước bị giày xéo dưới gót giày viễn chinh của kẻ thù xâm lược, tình mẫu tử ấy đã vượt lên trên sự ích kỷ bình thường của tình cảm cá nhân để hòa vào tình yêu giang sơn, bờ cõi. Người mẹ sẵn sàng bẻ đôi dòng sữa, dứt từng khúc ruột của mình gửi ra mặt trận. Trong số hàng vạn, hàng triệu người Mẹ Việt Nam Anh hùng đã đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có một người mẹ đã trở thành biểu tượng huyền thoại, một tượng đài bất tử bằng xương bằng thịt của lòng yêu nước và sự hy sinh vô bờ bến, đó chính là Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Sinh năm 1904 tại xóm Điện Thắng, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – mảnh đất miền Trung "chưa mưa đà thấm", nơi cái nắng cái gió của dải đất miền Trung trần mình qua bao mùa giông bão, và thanh thản về với tổ tiên vào ngày 10 tháng 12 năm 2010, hưởng thọ 106 tuổi, cuộc đời Mẹ trải dài qua hai thế kỷ, chứng kiến mọi thăng trầm, biến động lớn lao nhất của lịch sử hiện đại Việt Nam. Mẹ không trực tiếp cầm súng ra chiến trường, không đứng trong hàng ngũ những người lính xông pha nơi trận mạc, nhưng cuộc đời Mẹ lại chính là một "câu chuyện thời hoa lửa" khốc liệt nhất, bi tráng nhất và cũng lộng lẫy nhất để thế hệ hôm nay soi mình và nghiêng mình kính cẩn.
Để hiểu được trọn vẹn sự hy sinh vĩ đại của Mẹ Nguyễn Thị Thứ, ta phải ngược dòng thời gian về với mảnh đất Quảng Nam đầu thế kỷ XX. Quảng Nam là một vùng đất kỳ lạ của miền Trung Việt Nam, nơi đây vừa có cái khắc nghiệt của thiên nhiên với những mùa lũ trắng đồng, những cơn bão miền Trung xé toang mái rạ, lại vừa có cái oai hùng, trung dũng của một cái nôi cách mạng. Người Quảng Nam bộc trực, ngay thẳng, gan góc và có một lòng nồng nàn yêu nước tựa như bản năng sinh tồn. Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Thanh Quýt, thuở nhỏ Mẹ cũng như bao người con gái xứ Quảng khác, lam lũ, chịu khó, biết quay tơ dệt vải, biết ra đồng cấy cày. Mẹ lớn lên khi đất nước đang chìm trong đêm tối của ách đô hộ thực dân Pháp, những phong trào yêu nước dù bị đàn áp trong máu lửa nhưng đã kịp gieo vào lòng cô gái trẻ Nguyễn Thị Thứ những hạt mầm đầu tiên về lòng tự tôn dân tộc. Mẹ lập gia đình với ông Lê Tự Trị, một người đàn ông chất phác, cùng chung lý tưởng sống vì gia đình và quê hương. Cuộc sống của đôi vợ chồng nghèo xoay quanh mấy sào ruộng bạc màu và đàn con thơ lần lượt ra đời. Mẹ sinh được mười hai người con, gồm mười một người con trai và một người con gái. Giữa cảnh nghèo túng, Mẹ đã chắt chiu từng củ khoai, hạt lúa, dùng tình yêu thương bao la để nuôi dạy các con thành người, dạy các con biết yêu thương xóm giềng, biết kính trên nhường dưới, và quan trọng nhất là dạy các con đạo lý nước nhà thịnh hay suy, ngay cả người dân thường cũng có trách nhiệm.
Nhà văn người Pháp Antoine de Saint-Exupéry từng viết rằng con người chỉ thực sự tồn tại khi họ cống hiến cho một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân họ, và đối với gia đình Mẹ Nguyễn Thị Thứ, điều lớn lao ấy chính là độc lập, tự do của Tổ quốc. Khi tiếng súng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh khốc liệt chống đế quốc Mỹ xâm lược, ngôi nhà nhỏ của Mẹ ở Điện Bàn không còn bình yên nữa, tiếng gọi của non sông vang lên dọc theo những triền sông Thu Bồn, thôi thúc những chàng trai trẻ lên đường. Người con trai đầu lòng của Mẹ – anh Lê Tự Xuyên – nghe theo tiếng gọi cách mạng, tham gia hoạt động từ những ngày đầu, rồi lần lượt, các người con trai tiếp theo của Mẹ cứ thế xếp bút nghiên, cởi bỏ tấm áo nâu sồng để khoác lên mình màu áo xanh chiến sĩ. Họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, có người chưa kịp có người yêu, có người vừa mới lập gia đình, có người trên môi còn vương nụ cười trẻ dại. Mỗi lần một người con xin phép mẹ lên chiến khu, lòng Mẹ lại thắt lại, người mẹ nào chẳng ích kỷ khi muốn giữ con bên mình, muốn con được an toàn, bình yên, nhưng Mẹ Thứ hiểu, nếu ai cũng giữ con mình lại nơi xó bếp, thì ai sẽ là người đi đuổi giặc ngoài khơi xa, ai sẽ giành lại đất đai, ruộng vườn cho thế hệ mai sau, thế nên, mỗi lần con xin đi, Mẹ lại lặng lẽ gật đầu. Mẹ chuẩn bị cho con nải chuối chín nạm, nắm cơm nắm, chiếc khăn rằn, rồi tiễn con ra tận đầu làng, dưới bóng cây đa cổ thụ, nhìn theo bóng con khuất dần sau lũy tre xanh.
Nhưng chiến tranh là một cỗ máy xay thịt tàn nhẫn, nó không có chỗ cho những điều lãng mạn, và nó luôn đòi hỏi những cái giá đắt nhất. Người ta vẫn thường nói nước mắt chảy xuôi, quy luật tự nhiên là con cái sẽ tiễn đưa cha mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng, vậy mà đối với Mẹ Thứ, quy luật ấy đã bị đảo lộn một cách phũ phàng và đau đớn nhất. Vào năm 1948, người con trai đầu lòng Lê Tự Xuyên hy sinh trong một trận càn của thực dân Pháp, nhận tấm giấy báo tử đầu tiên, tim Mẹ như có ngàn mũi dao đâm, Mẹ khóc ngất bên hiên nhà, đó là vết thương đầu tiên, mở đầu cho chuỗi bi kịch kéo dài suốt ba thập kỷ. Chỉ vài năm sau, người con thứ hai, rồi người con thứ ba lần lượt ngã xuống, nỗi đau chưa kịp nguôi ngoai, dòng nước mắt trên má Mẹ chưa kịp khô, thì tin dữ khác lại bay về. Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, mức độ khốc liệt của chiến tranh tăng lên gấp bội, bom cày, đạn xới khắp vùng quê Điện Bàn, những người con của Mẹ lại tiếp tục ngã xuống trên khắp các chiến trường, có những năm, Mẹ phải nhận đến hai, ba tấm giấy báo tử. Đỉnh điểm của nỗi đau là có những ngày, giấy báo tử gửi về dồn dập, người ta kể lại rằng, có những thời điểm, nỗi đau quá lớn khiến Mẹ không còn nước mắt để khóc, Mẹ ngồi lặng câm như một khối đá sa thạch dưới hiên nhà, đôi mắt Mẹ nhìn đăm đắm vào khoảng không vô định. Chín người con trai của Mẹ đã nằm lại trong lòng đất mẹ, chưa dừng lại ở đó, người con rể duy nhất của Mẹ cũng hy sinh, và đứa cháu ngoại yêu quý – giọt máu của người con gái duy nhất – cũng ngã xuống khi tuổi đời vừa tròn mười tám.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Mười một người thân yêu nhất, mười một khúc ruột của Mẹ đã ra đi không một dấu vết, có những người con của Mẹ hy sinh mà cho đến tận hôm nay, phần mộ của các anh vẫn chưa được tìm thấy, các anh đã hòa xương máu vào sông núi, vào cây cỏ, vào từng thớ đất của quê hương. Đại thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều từng viết: "Đoạn trường thay, vị thế này/ Đồng cân nếm trải, dao cài thịt da". Nỗi đau của Mẹ Thứ chính là nỗi đau đoạn trường ấy – nỗi đau cắt da xẻ thịt mà không một ngôn từ nào của nhân loại có thể diễn tả trọn vẹn. Chín lần tiễn con đi, mười một lần khóc thầm lặng lẽ, người ta chỉ thấy Mẹ tiễn con đi trong tư thế hiên ngang của một người mẹ chiến sĩ, nhưng đêm về, dưới ngọn đèn dầu heo hắt, khi bốn bề chỉ còn tiếng côn trùng và tiếng đại bác gầm vang từ đồn địch xa xa, Mẹ lại một mình ôm chiếc áo cũ của các con, áp vào ngực để tìm lại chút hơi ấm quen thuộc đã mất, nước mắt Mẹ chảy ngược vào trong, thấm đẫm vào tim, kết tinh thành một sức mạnh tinh thần phi thường để tiếp tục sống và chiến đấu.
Ngôi nhà nhỏ của Mẹ tại Điện Thắng không chỉ là nơi thờ phụng các liệt sĩ, mà chính là một pháo đài cách mạng kiên cố nằm ngay trong lòng địch, trong suốt những năm tháng đen tối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, vùng Điện Bàn là vùng bị địch kiểm soát gắt gao. Chúng lập đồn bốt khắp nơi, tiến hành các chiến dịch càn quét nhằm cô lập lực lượng cách mạng, nhưng giữa muôn trùng vây của kẻ thù, dưới lưỡi lê và nòng súng của những tên lính ngụy hung hãn, Mẹ Thứ đã cùng người con gái duy nhất là bà Lê Thị Trị đào ngay trong khu vườn nhà mình năm căn hầm bí mật. Đó là những căn hầm nhỏ, ẩm thấp, thiếu không khí, nằm sâu dưới những lùm cây, dưới ụ rơm hay ngay sát cạnh chuồng bò, là nơi trú ẩn, nuôi giấu hàng trăm cán bộ, chiến sĩ cách mạng, các chiến sĩ biệt động, bộ đội thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5. Mỗi lần có chiến dịch càn quét của địch, các chiến sĩ lại rút xuống hầm, và ở bên trên, Mẹ Thứ trở thành ngọn hải đăng, thành lá chắn chở che cho họ. Hàng ngày, Mẹ giả vờ ra vườn hái rau, chăn bò, cắt cỏ nhưng thực chất là để quan sát tình hình, Mẹ quy ước với các chiến sĩ dưới hầm rằng nếu Mẹ để chiếc nón lá ngửa ở một vị trí nhất định, tức là có động, anh em phải nằm yên tuyệt đối; nếu chiếc nón lá úp xuống, hoặc Mẹ cất tiếng hò xứ Quảng ngọt ngào, ấy là dấu hiệu an toàn, các anh có thể lên để lấy cơm ăn, uống nước và hít thở khí trời. Biết bao lần, giặc Pháp rồi giặc Mỹ xăm xăm xông vào nhà Mẹ, chúng đập phá đồ đạc, gí súng vào đầu Mẹ tra hỏi Cộng sản ở đâu, nhưng người phụ nữ nhỏ bé, da mồi tóc bạc ấy nhìn thẳng vào họng súng đen ngỏm của kẻ thù, bằng giọng nói rặt mùi Quảng Nam, đanh thép đáp lại rằng ở đây chỉ có già này thôi, không có Cộng sản nào hết. Chúng không tìm thấy gì, liền dùng báng súng đánh Mẹ ngã quỵ xuống đất, nhưng Mẹ không sờn lòng, không một lời khai báo, bởi Mẹ biết, chỉ cần Mẹ hé răng một lời, tính mạng của hàng chục chiến sĩ dưới lòng đất sẽ bị đe dọa, phong trào cách mạng của quê hương sẽ bị tổn hại. Có những đêm mưa bão miền Trung trút nước xối xả, nước tràn vào hầm bí mật, Mẹ Thứ cùng con gái thức trắng đêm, lội trong bùn nước, dùng gáo múc từng gáo nước đổ ra ngoài để các chiến sĩ bên dưới không bị ngạt, bị lạnh, thương các anh như thương chính khúc ruột của mình, để rồi những căn hầm bí mật của Mẹ Thứ chính là một kỳ tích, là biểu tượng sống động cho thế trận lòng dân – thứ vũ khí tối tân nhất mà không mVào ngày 30 tháng 4 năm 1975, đại thắng mùa Xuân đã làm nổ tung bầu trời Việt Nam trong niềm vui vỡ òa của hàng triệu con người, đất nước trọn vẹn non sông, Nam Bắc sum họp một nhà, người người nhà nhà đổ ra đường ăn mừng chiến thắng, những người lính trở về trong vòng tay nghẹn ngào của gia đình. Nhưng trong ngôi nhà nhỏ của Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam, ngày chiến thắng là một ngày thật đặc biệt, đó là ngày vui lớn của dân tộc, nhưng cũng là ngày Mẹ đối diện với thực tại nghiệt ngã nhất của cuộc đời mình khi các con của Mẹ sẽ không bao giờ trở về nữa. Tiếng pháo hoa mừng độc lập vang lên vang dội, nhưng trong nhà Mẹ, không gian tĩnh lặng đến tịch liêu, và nhà nhiếp ảnh huyền thoại Trần Hồng đã ghi lại một khoảnh khắc làm chấn động trái tim hàng triệu người bằng bức ảnh Mẹ Nguyễn Thị Thứ ngồi bên mâm cơm ngày hòa bình. Trên chiếc phản gỗ cũ kỹ, Mẹ ngồi lặng lẽ trước một mâm cơm có chín chiếc bát và chín đôi đũa được xếp ngăn nắp, Mẹ gắp thức ăn bỏ vào từng chiếc bát trống không, như thể các con của Mẹ vừa đi làm đồng về, đang ngồi quanh mâm cơm như những ngày xưa cũ, đôi mắt Mẹ mờ đục theo thời gian nhìn vào những khoảng trống trên chiếc phản gỗ, một bức ảnh không cần một lời chú thích nào nhưng bản thân nó đã là một lời cáo trạng đanh thép nhất chống lại chiến tranh phi nghĩa, và là minh chứng hùng hồn nhất cho cái giá vĩ đại của hai chữ Hòa bình. Văn hào người Pháp Victor Hugo từng có một câu danh ngôn bất hủ rằng bên cạnh ánh sáng của trí tuệ còn có ánh sáng của lòng nhân ái, và lòng nhân ái, sự bao dung của Mẹ Nguyễn Thị Thứ chính là thứ ánh sáng rực rỡ ấy khi sau chiến tranh, Mẹ không ôm hận thù, không sống trong oán hận, đón nhận danh hiệu cao quý "Mẹ Việt Nam Anh hùng" vào năm 1994 bằng sự khiêm nhường vốn có của một người phụ nữ nông dân, và khi các đoàn khách trong và ngoài nước, kể cả những cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam đến thăm, Mẹ đều đón tiếp họ bằng nụ cười hiền hậu, bao dung, nắm lấy những bàn tay từng ở phía bên kia chiến tuyến để hướng tới tương lai.ột loại bom thông minh hay vũ khí hiện đại nào của kẻ thù có thể phá vỡ được. Năm 2010, trái tim vĩ đại của Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã ngừng đập sau hơn một thế kỷ miệt mài cống hiến và chịu đựng, Mẹ ra đi thanh thản, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam, nhưng Mẹ không biến mất mà đã hóa thân vào từng tấc đất, từng ngọn cỏ, từng dòng sông của quê hương xứ Quảng, được Đảng và Nhà nước tri ân bằng Quần thể tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng khổng lồ tại đỉnh núi Cấm, lấy nguyên mẫu từ hình ảnh của Mẹ mang dáng dấp dang rộng vòng tay đón các con trở về, trở thành một cột mốc tâm linh, một biểu tượng vĩnh hằng về lòng mẹ trong tâm thức văn hóa của dân tộc.
Nhà chính trị học, triết học người La Mã cổ đại Cicero từng khẳng định: "Lịch sử là nhân chứng của thời gian, là ánh sáng của sự thật, là sự sống của ký ức, là thầy dạy của cuộc sống." Đứng ở lằn ranh của thế kỷ XXI, nhìn lại cuộc đời của Mẹ Nguyễn Thị Thứ trong cuộc thi "Câu chuyện thời hoa lửa" này, thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay – những người may mắn được sinh ra và lớn lên khi đất nước đã hoàn toàn im tiếng súng, khi bầu trời không còn bóng dáng của máy bay ném bom và mặt đất không còn rùng mình bởi tiếng đại bác – không khỏi nghiêng mình thán phục và xúc động sâu sắc. Chúng tôi hiểu rằng, mỗi tấc đất tự do dưới chân mình hôm nay không phải tự nhiên mà có, mỗi nhành cây, ngọn cỏ, mỗi dòng sông, ngọn núi của nước Việt hôm nay đều được tưới tắm bằng máu của các anh hùng liệt sĩ và bằng nước mắt của những người mẹ Việt Nam, sự bình yên mà chúng tôi đang thừa hưởng là một thứ quả ngọt được hái từ chiếc cây cổ thụ mà rễ của nó đã bám sâu vào lòng đất bằng sự hy sinh vô bờ bến của thế hệ cha anh. Đối với tuổi trẻ hôm nay, câu chuyện của Mẹ Thứ không phải là một câu chuyện cổ tích xa vời, cũng không phải là những con số khô khan trong sách giáo khoa lịch sử, mà đó là một bài học lịch sử sống động bằng xương bằng thịt, một bài học tối thượng về lòng yêu nước và lòng tự tôn dân tộc, để chúng tôi soi mình vào cuộc đời của Mẹ mà thấy mình còn nhỏ bé, thấy những khó khăn, thử thách thường nhật của cuộc sống hôm nay chẳng là gì so với nỗi đau xé lòng và ý chí sắt đá của Mẹ ngày xưa. Thay mặt cho thế hệ trẻ, chúng tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn vĩ đại của Mẹ Nguyễn Thị Thứ, trước vong linh của mười một người thân yêu của Mẹ và trước hàng vạn anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc, biến lòng biết ơn này thành hành động cụ thể thông qua tinh thần uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, ra sức học tập, rèn luyện, tiếp thu tinh hoa văn hóa và khoa học công nghệ của nhân loại, đem trí tuệ và sức trẻ của mình để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi.

"Câu chuyện thời hoa lửa" của Mẹ Nguyễn Thị Thứ gửi gắm đến nhân loại một thông điệp vô giá và đanh thép về giá trị của Hòa bình, rằng hòa bình không phải là trạng thái hiển nhiên của thế giới, hòa bình là một thứ tài sản vô giá mà mỗi thế hệ phải dùng cả sinh mệnh để giành lấy và gìn giữ, và thế hệ trẻ hôm nay nguyện sẽ giữ gìn ngọn lửa ấy, để nó mãi mãi rực sáng, soi đường cho con thuyền Việt Nam tiến phăng phăng về phía trước, hướng tới một tương lai tươi sáng, thịnh vượng và trường tồn, xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến của Mẹ Nguyễn Thị Thứ – người Mẹ của muôn đời mẹ, một tượng đài bất tử trong lòng mỗi người con đất Việt!



