HUYỀN THOẠI VÀNH ĐAI TRẮNG: O CHẨM VÀ NỖI ÁM ẢNH KINH HOÀNG CỦA KẺ THÙ NƠI DỐC MIẾU
HUYỀN THOẠI VÀNH ĐAI TRẮNG: O CHẨM VÀ NỖI ÁM ẢNH KINH HOÀNG CỦA KẺ THÙ NƠI DỐC MIẾU
Giữa những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mảnh đất Gio Linh, Quảng Trị nằm sát vĩ tuyến 17 giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc đã biến thành một "vành đai trắng" hoang tàn. Dưới sức hủy diệt của bom đạn và sự bủa vây của hệ thống hàng rào điện tử McNamara tối tân, vạn vật bị san phẳng, chỉ còn lại chết chóc và đau thương. Nhưng chính trên vùng đất lửa ngập mùi thuốc súng ấy, một huyền thoại sống đã bước ra từ khói đạn. Người con gái với vóc dáng nhỏ nhắn nhưng mang trong mình ý chí thép đã trở thành nỗi khiếp đảm tột độ cho binh lính Mỹ và VNCH tại cứ điểm Dốc Miếu: Nữ du kích bắn tỉa Hoàng Thị Chẩm (O Chẩm).
Sinh năm 1946 tại thôn Xuân Long, xã Trung Hải, huyện Gio Linh, cuộc đời O Chẩm ngay từ thuở thiếu niên đã gắn liền với những mất mát và dòng máu kiên trung của gia đình. Bố của O bị giặc bắt bớ, t.r.a t.ấ.n tù đày; ở nhà, người mẹ tảo tần vẫn kiên cường nuôi giấu cán bộ cách mạng ngay trong căn hầm bí mật đào sâu dưới nền nhà. Nỗi căm thù giặc càng đè nặng lên đôi vai gầy khi hai người chú ruột lần lượt ngã xuống thành liệt sĩ, các anh chị là con của người cô ruột (Mẹ Việt Nam Anh hùng) cũng anh dũng hy sinh.
Bi kịch gia đình và quê hương đã hun đúc trong lòng cô bé Chẩm một lý tưởng sắt đá.
Mới 12 tuổi, O đã xin mẹ thoát ly, nhận nhiệm vụ làm giúp việc tại thị xã Quảng Trị để ngụy trang. Bằng sự nhanh nhẹn, mưu trí và gan dạ thiên bẩm, o giao liên nhỏ tuổi đã liên tục qua mắt các chốt kiểm soát dày đặc của giặc để tiếp tế lương thực, chuyển giao thư từ, tài liệu mật từ Gio Linh vào Đông Hà và ngược lại, bảo đảm mạch máu thông tin thông suốt và bí mật tuyệt đối.
Tháng 5 năm 1967, quân địch mở trận càn quét hủy diệt vào ba xã Trung Sơn, Trung Hải, Trung Giang hòng biến nơi đây thành vùng đất không còn sự sống. Đứng trước lệnh sơ tán theo lớp K8 ra miền Bắc, O Chẩm đã đưa ra một quyết định táo bạo: trốn ở lại, bám trụ quê hương để trực tiếp cầm súng chiến đấu. Tháng 7 năm 1967, O được đưa đi huấn luyện sử dụng súng máy cao xạ 12ly7 do các chiến sĩ Sư đoàn 308 hướng dẫn. Nhờ sự chuẩn xác đáng kinh ngạc, O lập tức được tin tưởng giao chức vụ Khẩu đội trưởng (sau là Tiểu đội trưởng) 12ly7 của thôn Xuân Long.
Chiến công đầu đời của người nữ khẩu đội trưởng được ghi dấu bằng một trận đánh nghẹt thở. Khi đối phương cậy hỏa lực mạnh điên cuồng càn quét, tìm cách vượt sông tiến công vào trận địa của ta, O Chẩm đã đưa ra một quyết định điên rồ nhưng đầy hiệu quả: ra lệnh hạ nòng khẩu súng máy 12ly7 vốn dùng để bắn máy bay xuống ngang tầm bộ binh. Những tràng đạn phòng không tầm thấp khốc liệt quét thẳng vào đội hình hành quân của giặc, bẻ gãy hoàn toàn mũi tiến công, bảo vệ vững chắc trận địa trong sự ngỡ ngàng của kẻ thù.
Phát hiện tài năng thiên xạ xuất chúng của O Chẩm, cấp trên quyết định đưa O vào lớp đào tạo chuyên sâu về bắn tỉa. Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1969, chiến trường giới tuyến bước vào giai đoạn đẫm máu nhất. Căn cứ quân sự Dốc Miếu lúc bấy giờ được ví như một "mắt thần" bất khả xâm phạm của địch với công sự kiên cố và trang bị tối tân. Trước tình hình đó, O Chẩm là người con gái duy nhất xung phong cùng 6 du kích nam tiến sâu vào lòng địch, xây dựng trận địa bắn tỉa vây ép căn cứ này.
Cuộc sống nơi hầm hào vây ép giặc vô cùng khắc nghiệt. Bảy con người sinh sống trong một căn hầm chật hẹp, mỗi người chỉ có một chiếc ba lô, vài bộ quần áo, khẩu súng bắn tỉa và 3 quả lựu đạn giắt chặt bên thắt lưng phòng lúc sinh tử. Để bảo đảm sự sống cho cả tổ, O Chẩm thường xuyên ngụy trang, buộc lá cây đầy mình, lẩn lút giữa các làn đạn pháo để đi tìm rau rừng, củ quả cải thiện bữa ăn.
Chính từ những góc khuất ngụy trang kín đáo ấy, O Chẩm cùng khẩu súng bắn tỉa đã trở thành "lưỡi hái tử thần". Với biệt tài "bách phát bách trúng", O đã tiêu diệt gọn 36 binh sĩ đối phương tại cứ điểm Dốc Miếu. Những phát súng xé toạc màn sương bí ẩn xuất hiện không báo trước đã gieo rắc sự hoảng loạn tột độ, khiến binh lính Mỹ và VNCH đóng trong đồn trú hoảng sợ đến mức không ai dám thò đầu ra khỏi công sự.
Không chỉ có biệt tài bắn tỉa, O Chẩm còn sở hữu trái tim gan dạ, sẵn sàng hy sinh vì đồng đội. Trận đánh tháng 5 năm 1970 tại làng Cao Xá đã trở thành một giai thoại bất hủ. Hôm ấy, O nhận lệnh gài mìn chống tăng để đón lõng địch từ hướng Đông. Tuy nhiên, quân giặc bất ngờ thay đổi lộ trình, điều động 9 chiếc xe tăng lù lù tiến thẳng vào vị trí ẩn nấp của tiểu đội O Chẩm. Do đơn vị hoàn toàn không có súng chống tăng, tính mạng của toàn bộ đồng đội bị đe dọa trong gang tấc.
Không một chút do dự, mặc cho Tiểu đội trưởng chưa kịp đồng ý, O Chẩm xin được hy sinh thân mình. O ôm khẩu súng K43 (AK43) lao ra khỏi công sự, cố tình lộ diện trước mũi xe tăng địch ở khoảng cách vỏn vẹn 50 mét rồi xả điên cuồng gần hết băng đạn. Kẻ thù trúng đạn, điên tiết muốn bắt sống người nữ du kích nhỏ bé nên đã rống ga, bẻ lái đuổi theo O. Đúng như kế hoạch, chiếc xe tăng đi đầu lao thẳng vào bãi mìn gài sẵn và nổ tung ngùn ngụt. Sức ép từ trận nổ long trời lở đất khiến O Chẩm bị đất đá vùi lấp hoàn toàn và ngất lịm đi. Nhưng khi vừa tỉnh lại, O lại phủi bùn đất, tiếp tục cầm súng chiến đấu cùng đồng đội.
Với chuỗi chiến công vô tiền khoáng hậu ấy, từ năm 1969 đến 1972, O Chẩm đã lập kỷ lục lẫy lừng: 9 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ (trong đó có 7 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ bắn tỉa diệt bộ binh, 1 lần diệt máy bay và 1 lần diệt xe cơ giới), cùng với đó là 2 lần đạt Chiến sĩ thi đua Mặt trận miền Nam - Quân khu 4 và Chiến sĩ quyết thắng mặt trận B5.
Rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1972, trong trận đánh lịch sử giải phóng quê hương, O Chẩm kiêu hãnh là một trong bốn người đầu tiên cắm ngọn cờ chiến thắng lên đỉnh cứ điểm Dốc Miếu. Bức ảnh lịch sử ghi lại khoảnh khắc ấy hiện vẫn được trang trọng lưu giữ tại Bảo tàng Hiền Lương.
Chiến công nối tiếp chiến công, vào ngày 15 tháng 9 năm 1973, một vinh dự lớn lao đã đến với người nữ du kích vùng đất lửa. Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã thực hiện chuyến thăm lịch sử có một không hai đến vùng giải phóng Quảng Trị khi chiến trường vẫn còn khét lẹt khói bom. Đầu buổi chiều hôm ấy, tại phía Bắc đồi Dốc Miếu, O Chẩm là một trong những du kích tiêu biểu được lựa chọn để đón chào vị nguyên thủ kiên trung.
Khi đoàn xe tiến đến, O lập tức nhận ra Fidel Castro nhờ thân hình cao lớn nổi bật và khí chất của một vị tướng lĩnh vĩ đại. Qua người phiên dịch, khi biết cô gái nhỏ nhắn đứng trước mặt mình là một dũng sĩ bắn tỉa kiên cường từng 9 lần diệt Mỹ, Chủ tịch Fidel Castro đã vô cùng xúc động. Ông nán lại rất lâu để siết chặt tay O Chẩm, ân cần hỏi thăm sức khỏe, gia đình và không ngớt lời ca ngợi tinh thần chiến đấu quả cảm của người con gái Việt Nam. Cái bắt tay lịch sử ấy đã truyền thêm sức mạnh to lớn cho O và đồng đội trên chặng đường đi đến ngày đại thắng 30/4/1975.
Sau ngày đất nước thống nhất, người nữ dũng sĩ Dốc Miếu năm nào không chọn nghỉ ngơi trên vinh quang. Từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 3 năm 1973, O được cử đi học lớp nữ hộ sinh tại Vĩnh Linh và sau đó trở về đảm nhận vai trò Trạm trưởng Trạm Y tế xã Trung Hải cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1987.
Bước ra khỏi cuộc chiến sinh tử, O Chẩm thấu hiểu hơn ai hết giá trị của từng mầm sống. Những ngày đầu chuyển từ việc cầm súng siết cò sang cầm kim tiêm, ống nghe cứu người còn nhiều bỡ ngỡ, nhưng bằng sự cần mẫn, O sớm trở thành chỗ dựa tinh thần của người dân. Trên chiếc xe đạp cũ kỹ, bất kể ngày đêm, mưa gió, O đi khắp các thôn xóm dọc hai bờ sông Bến Hải để đỡ đẻ cho hàng trăm sản phụ. Có những ca sinh ngược vô cùng nguy hiểm, một tay O đã giúp sản phụ vượt cạn an toàn, mang lại tiếng khóc chào đời giòn giã cho biết bao đứa trẻ. Người dân địa phương từ đó trìu mến gọi O bằng cái tên: "Bà đỡ mát tay".
Không dừng lại ở đó, dù đã tuổi cao sức yếu, O vẫn miệt mài làm từ thiện, thăm khám, bốc thuốc nam miễn phí cho người nghèo và chăm sóc gia đình các đồng đội cũ. Sự hồi sinh của những thế hệ trẻ bên dòng sông giới tuyến ngày nay chính là quả ngọt từ sự hy sinh xương máu của thế hệ o du kích năm nào. Năm 2007, giải thưởng KOVA danh giá đã được trao tặng cho O Chẩm nhằm tôn vinh một tấm gương cao đẹp, một biểu tượng vẹn toàn của người phụ nữ Việt Nam: Anh hùng, bất khuất trong lửa đạn chiến tranh và hiền hậu, vị tha, tràn đầy tình thương giữa thời bình.



