HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ
Có những trang lịch sử không thể viết bằng mực, bởi chúng được khắc bằng máu, nước mắt và lòng kiên trung yêu nước bất diệt của những con người Việt Nam trong thời hoa lửa. Khi triển khai Đề án của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về việc lưu giữ và tuyên truyền các nhân chứng lịch sử, chúng tôi tìm về đất Quảng Nam – vùng đất “địa linh nhân kiệt” – để được kể lại Câu chuyện thời hoa lửa của một người mẹ đã hóa thành huyền thoại. Đó là Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ, người phụ nữ có nhiều người con hy sinh vì độc lập dân tộc, là biểu tượng bất tử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Sinh năm 1904 tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt (nay thuộc phường An Thắng, TP. Đà Nẵng). Vùng đất “địa linh nhân kiệt”, cuộc đời Mẹ trải dài hơn một thế kỷ gắn liền với những nếp nhà tranh nghèo, với ruộng đồng gió Lào bỏng rát, chứng kiến bao biến động của đất nước, từ đêm tối nô lệ đến ngày non sông độc lập. Nhưng có lẽ, ít ai trên đời phải gánh chịu nỗi đau chất chồng như mẹ.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kéo dài gần 30 năm, mẹ Thứ đã tiễn biệt 9 người con trai, một người con rể, và hai cháu ngoại – tất cả đều ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Mỗi lần nhận tin dữ, mẹ chỉ lặng đi rồi lại nuốt nước mắt vào lòng, tiếp tục động viên các con còn lại lên đường:
“Còn giặc thì còn chiến đấu. Còn mẹ thì còn hậu phương.”
Những đứa con của mẹ chiến đấu tại nhiều chiến trường ác liệt, trong đó có những trận đánh khốc liệt ở Đà Nẵng – nơi mà mỗi tấc đất, mỗi ngọn núi đều thấm máu của những người lính trẻ. Mẹ từng nói với bà con lối xóm rằng:
“Các con tôi gửi lại cho đất quê nhà. Rồi đất sẽ nở hoa.”
Những “đóa hoa” ấy chính là hòa bình, là cuộc sống hôm nay chúng ta đang có.
Câu nói ấy chất chứa cả một bầu trời yêu nước.
Câu nói ấy nâng bước những người lính trẻ ra trận.
Câu nói ấy trở thành biểu tượng của người mẹ Việt Nam thời chiến.
Đà Nẵng – Quảng Nam là địa bàn chiến lược quan trọng, nơi diễn ra nhiều trận chiến dữ dội nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhân dân nơi đây phải hứng chịu biết bao đau thương, mất mát. Nhưng truyền thống “Trung dũng – kiên cường” của vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng đã hun đúc nên những con người như mẹ Thứ. Tại khu vườn của nhà bà có 5 hầm bí mật, nơi bà và con gái đầu Lê Thị Trị nuôi giấu nhiều cán bộ, bộ đội, du kích Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trên miệng hầm bà thả hàng chục con bò ăn cỏ ngay trong vườn. Lúc không có quân đối phương, hai mẹ con bà mở hé cửa hầm cho họ dễ thở, khi có động thì lại giả vờ đi coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm.
Mẹ không chỉ là hậu phương mà còn là tấm gương sáng ngời của lòng yêu nước son sắt:
Mẹ chắt chiu từng lon gạo, từng gánh khoai, gửi vào chiến khu.
Nhà mẹ từng là nơi nuôi giấu cán bộ, tiếp tế lương thực trong thời gian địch truy quét.
Mẹ luôn nhắc nhở con cháu và bà con trong thôn:
“Có hòa bình đâu phải tự nhiên mà có, phải đánh đổi bằng xương máu.”
Mẹ trở thành hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam thời chiến – anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.
Với những hy sinh vô bờ bến, mẹ Nguyễn Thị Thứ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, là người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong suốt hai cuộc kháng chiến. Bà Nguyễn Thị Thứ đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 17 tháng 12 năm 1994. Khi đến thăm bà, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã cầm tay bà và nói: "Mẹ đã tiếp thêm nghị lực cho chúng con vững bước. Mẹ là Mẹ Việt Nam".
Bức tượng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ do tác giả Nguyễn Long Biểu sáng tác bằng đá sa thạch hiện được trưng bày tại khu vực ngoài trời của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Chiếc nồi đồng bà dùng nấu cơm, đun nước uống cho chồng và các con cùng bộ đội, cán bộ cách mạng trong cuộc Chiến tranh Việt Nam được trưng bày trong chuyên đề Bà Mẹ Việt Nam anh hùng của bảo tàng này.
Ngày 27 tháng 7 năm 2009, tại tỉnh Quảng Nam đã khởi công xây dựng Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng và khu tưởng niệm mang tầm vóc quốc gia lấy nguyên mẫu hình tượng của bà. Dựa theo thiết kế của họa sĩ Đinh Gia Thắng, tượng đài được xây dựng trên diện tích 15 ha trên đỉnh núi Cấm, thuộc thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ. Tổng mức đầu tư cho tượng đài là hơn 411 tỷ đồng được huy động từ nguồn vốn ngân sách và đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Đây là tượng đài về Mẹ Việt Nam lớn nhất cả nước.Ngày 10 tháng 12 năm 2010, mẹ ra đi ở tuổi 106, để lại phía sau là câu chuyện khiến cả dân tộc phải cúi đầu trước sự hy sinh vô hạn.
Con gái cả của bà Nguyễn Thị Thứ là Lê Thị Trị (qua đời ngày 4 tháng 5 năm 2025, hưởng thọ 106 tuổi) cũng được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 30 tháng 4 năm 2007, vì có chồng và hai con gái là liệt sĩ:
Chồng bà Lê Thị Trị là ông Ngô Tưởng, tham gia cách mạng từ thời chống Pháp và bị bắt năm 1956. Sau nhiều ngày bị tra tấn nhưng ông vẫn không khai báo nên ông bị giam vào xà lim. Bị đánh đập đến kiệt sức, khi bị nhốt vào xà lim lại bị tra tấn bằng cách cho nước nhỏ miết lên đầu nên chỉ sau mấy tiếng đồng hồ ông đã chết cóng. Sáng hôm sau, các cai ngục bắt bạn tù đưa xác ông ra chôn tại bãi cát Cẩm Hà (Hội An).
Cô con gái đầu của Lê Thị Trị là Ngô Thị Cúc bị đối phương bắt năm 1969 cùng bà Trị, cả hai bị tra tấn nhưng vẫn không khai. Sau ba năm giam cầm, tra khảo nhưng không khai thác được gì nên đối phương phải trả tự do cho cả hai người. Ra tù (năm 1972), Cúc liền gia nhập lực lượng du kích xã và đến năm sau bà đã hy sinh trong một chuyến công tác vào địa bàn của chế độ VNCH kiểm soát.
Người con út của Lê Thị Trị là Ngô Thị Điểu chưa tròn 16 tuổi đã trở thành giao liên. Tháng 8 năm 1970, cô Điểu bị thương nặng và bị lính Mỹ bốc lên máy bay đưa thẳng ra tàu thủy đậu ở ngoài khơi biển Đông để tra hỏi, nhưng chưa tra hỏi được gì thì cô đã chết.
Bà Nguyễn Thị Thứ đã qua đời hồi 1 giờ 40 phút ngày 10 tháng 12 năm 2010, thượng thọ 106 tuổi, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn ở xã Điện Thắng Trung. Sự ra đi của bà để lại nhiều điều nuối tiếc cho Nhà nước Việt Nam, rất nhiều lãnh đạo cấp cao đã đến dự viếng tang lễ của bà, nhiều tờ báo đã cập nhật thông tin về tiểu sử và tang lễ của bà, đặc biệt là báo Nhân Dân.
Giữa cuộc sống bình yên của thế kỷ 21, khi tiếng súng chỉ còn trong ký ức, những câu chuyện như của mẹ Thứ chính là bài học sống động nhất về lòng yêu nước, về giá trị của hòa bình, về trách nhiệm của mỗi thanh niên hôm nay.
Là đoàn viên Chi đoàn Trường Mầm non 20-10, chúng tôi – những người trẻ thế hệ mới – cảm nhận sâu sắc rằng:
Hòa bình không phải món quà được ban tặng, mà là thành quả của biết bao máu xương. Vì thế, mỗi người cần sống xứng đáng, cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng, lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” đến thế hệ măng non trong từng bài học, từng hoạt động giáo dục.
“Câu chuyện thời hoa lửa” về mẹ Nguyễn Thị Thứ không chỉ nhắc nhớ về những đau thương mà còn thắp lên niềm tự hào dân tộc. Cuộc đời mẹ là bản anh hùng ca bất tử của vùng đất Đà Nẵng – Quảng Nam kiên trung.
Dù mẹ đã đi xa, nhưng ngọn lửa từ tấm lòng mẹ vẫn cháy mãi, soi sáng từng bước chân của những thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Xin kính cẩn nghiêng mình trước mẹ – người phụ nữ đã trao cho Tổ quốc những điều thiêng liêng nhất.
Mẹ Thứ – mẹ của muôn đời.



