Huyện ủy Tam Kỳ quyết định kết nạp đảng cho Đỗ Thế Vĩnh
Huyện ủy Tam Kỳ quyết định kết nạp đảng cho Đỗ Thế Vĩnh. (Chép theo tập sách NÚI THÀNH - ĐẤT VÀ NGƯỜI KIÊN TRUNG)
Bùi Tịnh sau khi trốn thoát, lẫn tránh nay đây mai đó, đứt liên lạc với các đồng chí cán bộ thoát ly, không biết tương lai sẽ đi về đâu, mất phương hướng. Bùi Tịnh bày tỏ tâm sự với người anh em họ là Bùi Quảng đang được ta cài cắm làm liên gia trưởng. Bùi Tịnh là phó Ban cán sự Vĩnh An, là một mắc xích trong đường dây hoạt động. Nếu ông ta có việc gì thì cơ sở sẽ vỡ toang. Bùi Quảng lập tức đến chỗ địch giam giữ Vĩnh báo diễn biến tư tưởng của người anh thúc bá của mình. Đỗ Thế Vĩnh hoảng đớm hỏi:
- Có thật thế không? Bùi Tịnh có hai người anh là Bùi Đề, Bùi Thơ đều là cán bộ tiền khởi nghĩa. Gia đình Bùi Tịnh là đối tượng số một của bọn Quốc dân đảng mới ngóc đầu dậy. Bản thân ông ta cũng là cán bộ kháng chiến, kẻ địch sẽ không để yên đâu. Nếu điều đó xảy ra thì anh Quảng, tôi và nhiều người khác trong cái làng này chết. Mà anh ấy sẽ chết trước tiên. Anh về nói anh ấy đừng làm điều dại dột, cố đợi tôi được chúng thả về sẽ tính sau. Tôi sẽ được thả, vì tụi nó không thể lập được hồ sơ về tôi.
Cuộc tra tấn thập tử nhất sinh đã để lại di chứng nặng nề trên thân xác Đỗ Thế Vĩnh. Nhờ sức trai anh mới trụ nổi. Hơn một tháng sau, chúng đưa Vĩnh ra nhà thương Tam Kỳ, Đốc Dõng kết luận anh bị loạn nhịp tim. Do ông Chi là người được ta cài vào làm y tá xã đã mớm trước nên Đốc Dõng ghi kèm "vùng não có di chứng chấn thương nhẹ". Ông Chi còn bí mật đưa thuốc cho Vĩnh uống tan máu bầm, sức khỏe của anh dần hồi phục. Thấy Vĩnh đã đi lại được, bọn công an di lý anh ra Khu Trung. Vì hồ sơ trống trơn, Đỗ Thế Vĩnh được tha bổng tại chỗ.
Được trớn ngang tàng lại có giấy chứng nhận của Đốc Dõng chấn thương thần kinh, Vĩnh giả khùng. Suốt ngày không mũ, không nón, bận mỗi quần đùi, lưng trần đen nhẽm, Vĩnh bươn đồng, lội sông nơm cá bắt cua. Miệng lảm nhảm những câu nói không đâu.... Trong cái làng Vĩnh An này chỉ có mẹ, vợ và một số cơ sở tin cẩn biết con người thật của Đỗ Thế Vĩnh. Nhiều người bà con cũng tưởng anh bị địch tra tấn chạm dây thần kinh hóa dại. Có lẽ trên đời không có gì cực, khó, nhục và đau đớn hơn là phải sống giả ngay với người thân yêu, bà con chòm xóm của mình. Nhưng người đau khổ nhất vẫn là bà Nhụ mẹ anh. Bà nhìn con vật vờ ngoài đồng ngoài bến mà như muối xát vào lòng. Biết làm sao bây giờ. Trời ơi!
Trong con mắt bọn địch thì Vĩnh là một kẻ bỏ đi. Tất cả các cuộc họp, cải huấn, tố cộng, sám hối bọn chúng đều không còn đếm xỉa đến cái thằng cha đầu óc không bình thường này nữa. Nhưng anh phải phân thân thiệt kín kẽ, sơ hở một tí thằng Liệu, thằng Hay mà nhận ra "Vĩnh giả vờ" thì bọn họ có tiếc chi một cái bao tời. Chúng sẽ thả sông anh lập tức để rửa hận.
Trong những hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, buộc con người phải sinh trăm phương nghìn kế, phải quan sát tinh tường đến độ nghệ thuật mới có thể tồn tại. Giả khùng để tồn tại đã khó, nhưng giả khùng để hoạt động cách mạng trong không gian rộng lớn đầy rẫy những cặp mắt cú vọ tinh ranh thì càng khó vô cùng. Cạm bẫy giăng khắp mọi nơi mà thời gian giả dại của anh thì chưa biết bao giờ sẽ chấm dứt. Trong lúc tình hình vô cùng đen tối này có ai trả lời được đất nước bao giờ thống nhất, cuộc đấu tranh này sẽ kéo dài đến bao lâu. Trung ương Đảng, Bác Hồ đang ở xa, các đồng chí cán bộ thoát ly như Mười Chấp, Võ Để thì làm sao mà trả lời nổi. Và ngay hiện tại, có ai trả lời được câu hỏi rất thực tế: Làm sao để "Thế Vĩnh thật" không bị bại lộ. Số phận của anh thật mong manh. Nhưng "Làm cách mạng từ khi ta đã hiểu/ Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Là gươm kề tận cổ súng kề tai/ Là thân sống coi như còn một nửa". Vĩnh quyết không sợ. Anh đã được thử thách. Nhưng không thể chủ quan, Vĩnh luôn tự nhủ mình: Cuộc chiến đấu này còn trải qua vô vàn gian lao, thử thách. Trên những chặng đường cách mạng dài lâu, ta giữ được sự vững vàng liên tục và nhất quán ở trong mọi tình huống là không dễ chút nào....
Ngay từ khi mới ra tù Đỗ Thế Vĩnh đã hình thành trong đầu kế hoạch bắt nối lại liên lạc với các đồng chí cán bộ thoát ly. Trước tiên phải giữ đúng lời hứa với Bùi Tịnh. Anh lập tức gặp Bùi Tịnh để củng cố tinh thần cho nhau. Bùi Tịnh đã lâm vào thế bất hợp pháp, lại không thể là cán bộ thoát ly. Vĩnh chạy lên hộp thư Đá Bể gặp Mười Chấp xin ý kiến. Mười Chấp chỉ đạo anh tìm mọi cách bố trí Bùi Tịnh ẩn náu tại chỗ, tại chính trong làng Vĩnh An. Khi nằm hầm bí mật, lúc ở trong buồng, trên rầm nhà, ngoài miếu dõ, bờ bụi, ăn uống bữa đói bửa no... Anh ta phải lánh né quanh quẩn trong làng đến gần hai năm. Ở gần nhà, nhìn thấy nhà, thấy khói bếp nhưng Bùi Tịnh không hề chạm đến ngõ, phải sống trong cảnh cách mặt ngăn lòng. Thà rằng đi thoát ly, đi tập kết xa xôi xứ người, đằng này chỉ cách nhau mấy bước mà không thể gặp vợ con, cha mẹ. Trong bóng tối của hầm bí mật, lúc cô đơn trên rầm nhà, nước mắt Bùi Tịnh đẩm mi. Đấy là những giờ phút đấu tranh tư tưởng vô cùng gay gắt giữa một Bùi Tịnh là thanh niên bình thường với một Bùi Tinh là chiến sĩ cách mạng đang sống ép mình trong thời quốc loạn. Năm 1957 ta nối lại được đường dây, thông qua Đỗ Thế Vĩnh các ông Võ Để, Mười Chấp bố trí Bùi Tịnh theo đường núi ra Bắc.
Bùi Tịnh ra đi, Vĩnh bớt phần lo cho đồng chí nhưng lại phải xa một người anh hàng xóm thông hiểu, chia sẻ nỗi lòng. Thế rồi trong cuộc chiến đấu quyết liệt này gần như không còn chỗ cho tình cảm riêng tư, anh vẫn lại tiếp tục giả dại trên những chặng đường cách mạng. Cơm gạo cha mẹ, vợ nuôi để anh suốt ngày lang thang khắp các làng Vĩnh An, Phú Hưng, Tịch Đông, Phú Khê, Phú Hòa, Thạch Kiều, Bích Ngô, Trường An có khi vượt sông Trường Giang qua vùng Đông.... Gặp cơ hội thuận lợi là anh tọt ngay vào nhà cơ sở nào đó để nhận hoặc trao đổi một vài thông tin cần thiết.
Cuối năm 1955, Mười Chấp giao cho anh một chuyến công tác xa. Ra ngã ba Cây Cốc, cơ sở đã chuẩn bị sẵn một gánh muối để Đỗ Thế Vĩnh gánh đi bán dạo. Nhiệm vụ của anh là tìm gặp cho được ông Hai Chế (Nguyền Tiến Chế) - Bí thư Huyện ủy Thăng Bình. Lúc này cơ sở Thăng Bình đã bị vỡ sạch, ông Chế chạy vào vùng chợ Minh Huy ẩn náu. Anh gánh muối đi bán cầm chừng để kéo dài thời gian rảo khắp các làng quê tìm ông Chế. Anh Vĩnh phải qua mấy lần bắt ám hiệu khác nhau mới gặp được Nguyễn Tiến Chế. Từ Minh Huy, hai ông theo đường dây vào Bình Quế, đổ xuống Tam Thành, Tam An, qua Tam Dân vào Ngọc Nha tạt qua Trường Cửu gặp Mười Chấp. Ông Hai Chế được Mười Chấp giữ luôn ở lại Nam Tam Kỳ theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy... Đến Trường Cửu, Đỗ Thế Vĩnh trở lại nguyên hình một người dở dại đạp qua Trường An vào Bích Ngô, Thạch Kiều đổ xuống Vĩnh An quê anh.
Qua nhiều thử thách cam go dài lâu, Huyện ủy Tam Kỳ quyết định kết nạp đảng cho Đỗ Thế Vĩnh. Giữa đêm giá lạnh của ngày 10 tháng 10 năm 1958. Đồng chí Võ Ngọc Hải (Võ Để, Tư Chuyển) cùng với Đỗ Thế Vĩnh hẹn gặp tại mả vôi ông Vệ nằm trong một nghĩa địa thuộc làng Vĩnh An để tiến hành lễ kết nạp đảng. Ông Để lấy từ túi xách vải xi-ta ra một tấm ảnh Bác Hồ nhỏ bằng bàn tay, hai miếng giấy học sinh có vẽ lá cờ Tổ quốc và cờ Đảng đặt trên nóc mộ, bấm pin đọc quyết định kết nạp đảng Đỗ Thế Vĩnh. Trong đêm tối mịt, giữa chốn linh thiêng, vắng vẻ một mình đồng chí Võ Để, huyện ủy viên Tam Kỳ tuyên bố kết nạp và chứng kiến lời thề của đảng viên mới Đỗ Thế Vĩnh. Tại thời điểm này, giữa một nghĩa địa hoang vu, tất cả đều tối và buồn: Trời đất tối, tình hình tối, đường đi tối cùng với tiếng ếch nhái côn trùng kêu rả rích dưới bầu trời đêm mờ ảo và gió mùa đông bắc lạnh căm, chỉ có niềm hy vọng, niềm tin thiêng liêng của hai đảng viên cộng sản lóe sáng. Thực hiện lễ kết nạp xong, Võ Để ôm Thế Vĩnh: "Đồng chí là một trong những đảng viên vô cùng hiếm hoi được kết nạp tại huyện Tam Kỳ trong giai đoạn cách mạng vô cùng khó khăn này. Đảng tin đồng chí. Chúc mừng đồng chí!".



