Huyết Chiến Chi Lăng - Sông Sắt Bạch Đằng
Mùa xuân năm 981, giông bão ngập trời giăng ngang dải biên cương phía Bắc. Vua Tống Thái Tông nhân lúc triều Đinh biến động đã sai Hầu Nhân Báo, Tôn Hoàn dẫn đại quân thủy bộ chia làm hai ngả, hừng hực khí thế tràn xuống thôn tính nước ta. Trong kinh thành Hoa Lư, Lê Hoàn – người vừa được Thái hậu Dương Vân Nga trao chiếc long bào – đĩnh đạc bước lên ngai vàng, tự xưng Lê Đại Hành.
Lời thề bảo vệ nền độc lập non trẻ của Đại Cồ Việt vang vọng khắp điện Bách Môn. Không một phút chậm trễ, Hoàng đế lập tức khoác chiến bào, đích thân cầm quân ra mặt trận.
Tháng 3 năm 981, hạm đội thủy quân Tống do Lưu Nhan Đức chỉ huy tiến vào cửa biển Bạch Đằng. Sông Bạch Đằng cuồn cuộn sóng trào, nơi năm xưa Ngô Quyền từng chôn vùi quân Nam Hán, nay lại sắp sửa chứng kiến thêm một thảm bại nữa của ngoại xâm.
Lê Đại Hành đích thân chỉ huy lực lượng thủy binh. Nhận thấy quân Tống cậy thuyền to đông đảo nhưng không thông thuộc luồng lách, ông hạ lệnh cho đóng cọc gỗ dưới lòng sông, tổ chức các trận địa phục kích dữ dội dọc hai bờ.
Khi thủy triều dâng cao, Lê Đại Hành cho thuyền nhỏ lao ra khiêu chiến rồi giả vờ tháo chạy. Quân Tống hăm hở thúc thuyền lớn đuổi theo. Đến khi con nước rút nhanh, hàng trăm cọc nhọn bọc sắt nhô lên khỏi mặt nước như những ngọn giáo khổng lồ.
"Đánh!" – Tiếng gầm của Lê Đại Hành hòa cùng tiếng trống trận rung chuyển cả khúc sông.
Từ các lạch ẩn nấp, hàng trăm thuyền nhẹ của Đại Cồ Việt xông ra như vũ bão. Tên lửa bắn như mưa, lửa bùng lên thiêu rụi chiến thuyền địch. Thuyền Tống hoảng loạn tháo chạy nhưng vấp phải bãi cọc nhọn, va vào nhau vỡ tan tành. Sông Bạch Đằng nghẽn lối, máu giặc nhuộm đỏ ngầu dòng nước. Thủy quân Tống hoàn toàn tan rã, Lưu Nhan Đức cuống cuồng rút chạy về nước.
Ở hướng đường bộ, tướng giặc Hầu Nhân Báo dẫn hàng vạn tinh binh đang hung hăng tiến sâu vào vùng núi rừng Chi Lăng (Lạng Sơn). Nghe tin thủy quân thất bại, Hầu Nhân Báo hoang mang, tiến lui đều lưỡng lưỡng.
Lê Đại Hành lập tức ngoặt quân lên phía Bắc, tổ chức thế trận vây hãm. Ông hiểu rõ địa thế hiểm trở của hiểm quan Chi Lăng – nơi núi cao vực sâu, rừng rậm bạt ngàn. Hoàng đế sai quân lính mai phục kín các sườn núi, đồng thời dùng kế "dụ địch vào sâu".
Đêm tháng 4 năm 981, sương mù giăng kín các khe núi. Hầu Nhân Báo nhận được tin báo giả rằng quân Đại Cồ Việt đang hoảng loạn tháo chạy, liền vội vã thúc quân đuổi theo. Khi toàn bộ đội hình giặc lọt trọn vào thung lũng hẹp, tiếng tù và nổi lên dồn dập từ bốn phía.
Cá đã vào lưới.
Từ trên các vách đá cao ngất, quân ta trút đá lớn và cây gỗ xuống như mưa, đè bẹp vô số quân địch. Tiếp đó, các chiến sĩ Đại Cồ Việt từ trong rừng rậm xông ra, dùng đoản đao, giáo dài áp sát giáp lá ngà. Tiếng gươm khua, tiếng gào thét náo động cả núi rừng.
Trực tiếp xông pha nơi đầu sóng ngọn gió, Lê Đại Hành cưỡi ngựa chiến, tay lăm lăm thanh đại đao chém gục hàng loạt tên địch. Trong cơn hỗn chiến, Hầu Nhân Báo bị chém chết tại trận. Mất thủ lĩnh, quân Tống như đống cát vỡ, xô đẩy nhau chạy tháo chạy trong vô vọng. Tướng Tôn Hoàn hốt hoảng thu gom tàn quân giẫm đạp lên nhau tháo chạy về bên kia biên giới.
Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất kết thúc bằng một chiến thắng thần tốc và oanh liệt. Chỉ trong vòng chưa đầy vài tháng, toàn bộ ý chí xâm lược của triều đại nhà Tống đã bị đè bẹp hoàn toàn.
Ánh bình minh chiếu sáng rực rỡ trên vùng đất biên cương Chi Lăng. Lê Đại Hành đứng trên đỉnh đèo, tuốt gươm thu vào vỏ, ánh mắt tự hào nhìn dải đất giang sơn tươi đẹp.
Chiến thắng lừng lẫy năm 981 dưới sự chỉ huy thiên tài của Lê Đại Hành không chỉ đập tan mộng thôn tính của nhà Tống, mà còn khẳng định một sự thật đanh thép: Đại Cồ Việt đã là một quốc gia độc lập, tự chủ, có đủ bản lĩnh và sức mạnh để đè bẹp bất kỳ thế lực ngoại xâm hung hãn nào.



