Khác

Huỳnh Công Huy

Đến nay chưa có tư liệu để biết rõ về dòng dõi và quê quân của ông Huỳnh Công Huy. Có dư luận cho rằng ông thuộc dòng dõi họ Bùi và tên là Bùi Quang Huy, có quan hệ thân tộc với Bùi Quang Diệu tức Quân Là hay Độc binh Là (Thông binh Là). Có thể, ông thay đổi họ lúc nghĩa quân tan rã.

02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháp Mười vào năm 1864 là trung tâm kháng chiên của Nam Kỳ, bên cạnh việc xây dựng lực lượng quân sự để tiêu diệt kẻ thù. Thiên hộ Dương còn hình thành bộ máy chính quyên kháng chiến, ông phong cho Bùi Quang Diệu làm Tổng đốc tỉnh Gia Định và ông Huy phụ trách quân độc quân lương.

Với chức vụ mới đấy trọng trách, phải lo sao có đầy đủ lương thực cho trên dưới 1.000 nghĩa quân, ông cùng với các quan trong bộ phận quân lương ngày đêm xuôi ngược khắp hai miền Đông, Tây Nam Kỳ để tuyên truyền vận động. thu nhận lúa gạo. Từ cân cử Tháp Mười, theo các con đường vận chuyển chính:

- Một là con đường ra Cái Nửa theo hướng trổ ra An Cư (nay là xã Hậu Mỹ - Cái Bè) đền. Xoài Tư (nay thuộc xã Mỹ Thành Nam - Cai Lậy).

Con đường thứ hai từ Tháp Mười theo hướng tây bắc lên Mộc Hoá, xuyên qua rộc Đìa Gừa (rộc Đìa Gạo) qua làng Hậu Thạnh Đông (nay là Tân Thạnh - Long An).

- Cuối cùng là con đường huyết mạch - con đường từ Tháp Mười theo hương tây nam ăn ra rạch Cần Lỗ, nay còn lại tên Đường Thét, gợi cho hậu thể hình ảnh một con đường thẳng từ ngọn Trà Bông (Đường Gố) đền Bàu Tiên - Động Cất, từ đây vô Tháp Mười có các con lung, nay còn hiện rõ.

Dưới sự chỉ huy của ông Bùi Quang Huy, đội quân lương đã vượt qua mọi khó khăn, bắt trắc, từ khâu tuyên truyền vận động, thu nhận, vận chuyển, tiếp tê ra mặt trận, đền các đồn luy xa xôi, vượt qua bao ngăn chận, tình rập, phục kích của giặc để mang lương thực đến tận chiến trường phục vụ chiên đầu. Vì vậy, ông được chủ tướng Thiên hộ Dương và anh em nghĩa quân hết lòng tin tưởng,

Đền tháng 4/1866, thực dân Pháp tập trung đại quân tần công căn cứ Tháp Mười, ông cùng đội quân lương vừa chiên đầu, vừa tiếp tê, vừa bảo vệ lương thực. Đến khi Thiên hộ Dương quyết định bỏ cân cử Tháp Mười, rút lui để bảo toàn lực lượng, ông được lệnh phải gấp rút mang một số lương thực tối đa có thể mang được, rút đi trước lên vùng biên giới.

Khi nghĩa quân tan rã, ông không về xứ, vẫn ở lại Sa Rài, giải tán đội quân lương, khuyên nghĩa quân nên về quê làm ăn, không cộng tác với giặc, giữ vững lòng trung với nước chờ đợi thời cơ. Có một số nghĩa quân không về làng cũ, tình nguyện ở lại với ông, trong đó có các ông Hồ Cường, Phan Hồ, ông Bua (không nhô họ)... Sau khi thành lập làng Tân Thành, ông Hồ Cường được cử giữ chức câu đương (lo việc tố tụng, tranh chấp nhỏ trong làng), nên được gọi là Câu Cường, ông Bua và Phan Hồ giữ chức hương tham, nên được gọi là Tham Bua, Tham Hồ. Riêng Tham Bua, tên ông đã thành địa danh (ập Tham Bua), tên một ấp của làng Tân Thành ngày trước (nay là ấp Thi Sơn).

Để có lúa gạo bảo đảm cuộc sống lâu dài cho sở nghĩa quân tình nguyện ở lại, ông hô hào họ phá hoang hai bên rạch Thông Bình để làm ruộng, về sau chiêu mộ thêm lưu dân từ các nơi khác đền.

Làng Tân Thành chính thức ra đời vào khoảng năm 1870, thuộc tổng An Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc, dân làng cử ông Huy làm hương cả. Khi mới thành lập, làng Tân Thành rất rộng bao gồm cả huyện Tân Hông ngày nay (chỉ trừ xã Bình Thạnh), đền năm 1901 trong làng có 1.434 dân cư.

Sự ra đời của làng Tân Thành là công lao của toàn dân làng, trong đó phải kể đến công lao to lớn của ông Huỳnh Công Huy. Theo truyền thông thì Tiên hiển khai khẩn, hậu hiện khai cơ, ở đây, ông Huỳnh Công Huy vừa khai khẩn lại vừa khai cơ, nên ông chẳng những được dân làng thờ với tư cách là tiến hiến trong chính điện của đình làng, mà còn lập miều thờ riêng gọi là miều Tiên Hiến. Trải qua bao năm tháng chiến tranh, đạn bom tàn phá, đình và miều thờ ông vẫn được trùng tu, ngày đêm hương khói và được Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn