Huỳnh Ngọc Ẩn
Ông Huỳnh Ngọc Ấn sinh ngày 05 tháng 5 năm 1936 trong một gia đình nông dân, tại làng Mỹ An Hưng, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ An Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).
Trường thành trên quê hương giàu truyền thông cách mạng nên ông sớm có ý thức đầu tranh và tham gia cách mạng. Thời niên thiều, ông tham gia hoạt động văn nghệ ở xã.
Năm 1949, ông thoát ly vào Đồng Tháp Mười tham gia kháng chiến, là nhân viên văn phòng Ban Kiểm tra, rồi Nông hội tỉnh Sa Đéc và Vân phòng Mặt trận tỉnh Long Châu Sa. Do viết chữ đẹp, ông được phân công viết chữ để “in bột" công văn, chỉ thị của tỉnh.
Trong những năm cuối cuộc kháng chiến chồng Pháp, tình hình chiến sự vô cùng ác liệt, địch càn quét tới tận bờ sông Sở Hạ, các cơ quan, đoàn thể của tỉnh Long Châu Sa lúc bấy giờ tỉnh giản biên chế triệt để và gom lại vào Văn phòng Mặt trận, phải tự túc hoàn toàn. Mùa khô, cơ quan đóng trên bờ sông Sở Hạ, phía Campuchia. Mùa nước chuyển về huyện Tân Hồng.
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, đền tháng 8 năm 1954, ông được biên chế vào bộ đội Long Châu Sa và tập kết ra Bắc. Ông công tác tại Trường Cán bộ miền Nam, trực thuộc Ban Tổ chức Trung ương và sau đó, công tác tại Văn phòng Bộ Nông Lâm.
Năm 1956, cơ quan cử ông học Nga văn tại trường Ngoại ngữ đầu tiên của Việt Nam.
Năm 1958, ông được phân công về Bộ Công nghiệp, làm phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô tại công trường xây dựng Nhà máy điện Lào Cai (một trong hai nhà máy Liên Xô giúp Việt Nam để khởi đầu ngành công nghiệp non trẻ).
Năm 1959, ông công tác tại Nha Khí tượng. Ngày 29 tháng 6 năm 1960, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng, cũng trong năm này, ông được cơ quan cử đi dự thi vào Đại học Hà Nội.
Năm 1963, sau khi tốt nghiệp đại học, ông được phân công về Ban Thông nhất Trung ương và bắt đầu tham gia công tác đồi ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ông vinh dự được tham gia nhiều đoàn miền Nam do bà Nguyễn Thị Bình và các vị trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thăm nhiều nước, dự các Hội nghị quốc tế để giới thiệu cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè trên thế giới. Ông đã tham dự nhiều cuộc gặp gỡ với các tổ chức phản chiến của nhân dân Mỹ để bàn bạc, phối hợp hành động đòi Chính phủ Mỹ châm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
Cuối năm 1968, ông Huỳnh Ngọc Ấn được cử tham gia Đoàn Đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam/Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris cho đền năm 1974. Trong thời gian này, ông được phân công phụ trách Phòng Thông tin Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Thuỵ Điển.
Ngày 02 tháng 5 năm 1975, ngay sau ngày Sài Gòn được giải phóng, ông tham gia đoàn tiếp quân Bộ Ngoại giao chính quyền cũ. Đoàn phải giải quyết nhiều vân đề ngoại giao phức tạp, chưa có tiền lệ, đồng thời đảm bảo hoạt động đối ngoại bình thường của Chính phủ Cách mạng lâm thời.
Tháng 8 năm 1975, ông được cử làm Bí thư thứ hai Phái đoàn Quan sát viên của Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Liên Hợp Quốc.
Năm 1976 đền 1980, ông được cử làm Tham tán, người thứ hai Phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hợp Quốc tại Genève. Đây là thời kỳ khó khăn, các thế lực thù địch chồng phá ta tại các diễn đàn quốc tế về sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng.
Năm 1985 đến 1994, ông được bổ nhiệm làm Trường phòng Báo chí, rồi Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1994, ông được cử làm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền tại Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland'.
Năm 1999, ông về nước nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu (năm 2005). Với cương vị này, ông đã vận động kiều bào đóng góp xây dựng bồn trường mẫu giáo tại các huyện Tháp Mười, Lấp Vò, Châu Thành và thành phố Cao Lãnh.



